“CÁC VUA HÙNG ĐÃ CÓ CÔNG DỰNG NƯỚC - BÁC CHÁU TA PHẢI CÙNG NHAU GIỮ LẤY NƯỚC” - NGÀY GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG (MÙNG 10 THÁNG 3 ÂM LỊCH) *** KỶ NIỆM 51 NĂM GIẢI PHÓNG TỈNH KHÁNH HÒA (4/1975 - 4/2026) VÀ 51 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG MIỀN NAM, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC (30/4/1975 - 30/4/2026) *** 72 NĂM NGÀY CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ (07/5/1954 - 07/5/2026) *** 136 NĂM NGÀY SINH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH (19/5/1890 - 19/5/2026) *** 120 NĂM NGÀY SINH ĐỒNG CHÍ HÀ HUY TẬP (24/4/1906 - 24/4/2026) *** 140 NĂM NGÀY QUỐC TẾ LAO ĐỘNG (01/5/1886 - 01/5/2026) *** 122 NĂM NGÀY SINH ĐỒNG CHÍ TRẦN PHÚ (01/5/1904 - 01/5/2026) *** 130 NĂM NGÀY SINH ĐỒNG CHÍ HỒ TÙNG MẬU (15/6/1896 15/6/2026) *** 156 NĂM NGÀY SINH V.I.LÊNIN (22/4/1870 - 22/4/2024) *** 208 NĂM NGÀY SINH C.MÁC (05/5/1818 - 05/5/2026)

Thứ Sáu, 25/09/2026 07:12
  30/10/2023 00:00        

Khánh Hòa hướng tới một nền kinh tế biển xanh, bền vững

Khánh Hòa hướng tới một nền kinh tế biển xanh, bền vững

PGS.TS. Nguyễn Chu Hồi[1]

     Khai thác, sử dụng biển, đảo để phát triển kinh tế biển hiệu quả và bền vững gắn với bảo đảm an ninh quốc phòng trên biển trong bối cảnh phức tạp ở Biển Đông đã được tỉnh Khánh Hoà đặt vào vị trí ưu tiên xuyên suốt, mang tầm vóc chiến lược.

     Khánh Hòa là tỉnh ven biển “cực Đông” của lãnh thổ đất liền Việt Nam, nằm ở vùng Nam Trung Bộ, có lợi thế vượt trội về biển và tiềm năng phát triển kinh tế biển lớn: gần đường hàng hải quốc tế cắt qua Biển Đông, có thềm lục địa rất hẹp, sườn lục địa dốc cùng với khoảng 200 đảo lớn, nhỏ và các vịnh ven bờ nổi tiếng, cùng với quần đảo san hô Trường Sa ở ngoài khơi[2]. Vùng biển, đảo và vùng ven biển Khánh Hoà giàu đa dạng sinh học, tiềm năng bảo tồn cao, đa dạng nguồn tài nguyên thiên nhiên biển (sinh vật và phi sinh vật), bao gồm cả cảnh quan biển đảo - tiền đề cho phát triển đa dạng các ngành/lĩnh vực kinh tế biển, nhất là du lịch biển, cảng biển, đánh cá, nuôi hải sản,... Đặc biệt, Khánh Hoà có vị thế địa chiến lược đặc biệt của huyện đảo Trường Sa, quân cảng Cam Ranh, cảng biển nước sâu trung chuyển quốc tế Vân Phong, cùng với các giá trị toàn cầu của vịnh đẹp Nha Trang và là một trong 5 trung tâm nghề cá của cả nước; v.v... Bởi vậy, khai thác, sử dụng biển, đảo để phát triển kinh tế biển hiệu quả và bền vững gắn với bảo đảm an ninh quốc phòng trên biển trong bối cảnh phức tạp ở Biển Đông đã được tỉnh Khánh Hoà đặt vào vị trí ưu tiên xuyên suốt, mang tầm vóc chiến lược.

     Thời gian qua, các ngành/lĩnh vực kinh tế biển của Khánh Hòa đã có những bước phát triển mới, đóng góp nguồn thu lớn cho ngân sách địa phương. Tuy nhiên, những kết quả chung đạt được vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của tỉnh và chưa đạt được các mục tiêu đề ra; khả năng thích ứng của nền kinh tế còn thấp khi đại dịch COVID-19 xảy ra, chưa thu hút đầu tư được các ngành có hàm lượng công nghệ cao và có giá trị gia tăng lớn;...”[3].  Tiềm năng, lợi thế của tỉnh chưa được khai thác hợp lý và phát huy hiệu quả, chưa tạo ra sự đột phá cho phát triển. Chính vì thế, Bộ Chính trị chủ trương và xác định mục tiêu[4]: (i) Xây dựng và phát triển Khánh Hòa trở thành thành phố trực thuộc Trung ương vào năm 2030, phù hợp với vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền quốc gia về biển, đảo của Tổ quốc, trung tâm kết nối vùng, cửa ngõ chính ra Biển Đông của vùng Tây Nguyên và khu vực duyên hải Nam Trung Bộ; (ii) Xây dựng và phát triển Khánh Hòa phải trên cơ sở phát triển bền vững kinh tế biển và khai thác, sử dụng hiệu quả, bền vững tài nguyên biển. Khai thác và phát huy tối đa các tiềm năng, lợi thế cho phát triển với kinh tế biển là nền tảng, du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn; công nghiệp chế biến, chế tạo công nghệ cao, dịch vụ logistics, công nghiệp năng lượng, kinh tế số là đột phá; (iii) Phát triển đột phá vùng ven biển; đẩy mạnh xây dựng và phát triển huyện đảo Trường Sa trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa, xã hội trên biển của cả nước; là pháo đài vững chắc bảo vệ chủ quyền của Tổ quốc. Khơi dậy khát vọng vươn lên của Đảng bộ và Nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

     Để phát triển bền vững kinh tế biển Khánh Hòa theo tinh thần của Nghị quyết số 36/NQ-TW của Trung ương Đảng (2018) về Chiến lược PTBV kinh tế biển đến năm 2030[5]; Nghị quyết số 09/NQ-TW về xây dựng, phát triển tỉnh Khánh Hòa đến năm 2030, tầm nhìn 2045; và Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIII, cần quán triệt các yêu cầu cơ bản sau: (i) Duy trì được nguồn vốn tự nhiên biển; (ii) Bảo tồn được thiên nhiên biển, bao gồm cảnh quan biển; (iii) Bảo vệ được môi trường biển khỏi ô nhiễm và suy thoái; (iv) Phát triển hiệu quả kinh tế biển dựa trên nền tảng của kinh tế biển xanh và kinh tế tuần hoàn; (v) Thực thi nghiêm túc pháp luật về biển và kinh tế biển; (vi) Truyền thông nâng cao nhận thức và trang bị kiến thức cho các tầng lớp trong xã hội, đặc biệt là doanh nghiệp và cộng đồng dân cư ven biển và trên đảo.  

     Ngoài ra, để góp phần phát triển bền vững kinh tế biển đến năm 2030 cũng cần triển khai tốt Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 với 17 Mục tiêu phát triển bền vững mà Việt Nam đã cam kết với cộng đồng quốc tế, bao gồm Mục tiêu số 14 về sử dụng và bảo tồn bền vững biển và tài nguyên biển”[6]. Bên cạnh việc cụ thể hóa các bài học kinh nghiệm quốc tế, và chủ trương, giải pháp lớn của Đảng và Chính phủ nói trên, thì việc quy hoạch khai thác, sử dụng hợp lý và quản lý hiệu quả tài nguyên - môi trường biển gắn với bảo vệ, giữ vững chủ quyền, an ninh biển đảo vừa là nhiệm vụ vừa là những nhóm giải pháp cần chú ý trong thời gian tới. Đặc biệt, cần chú trọng sử dụng hợp lý vùng ven biển, các đảo và các thủy vực ven bờ (đầm, vũng, vịnh) phù hợp với bản chất tự nhiên và thế mạnh của từng loại hình (thuận thiên). Dưới đây là một số nhóm giải pháp/biện pháp cụ thể:

Biển Việt Nam có rất nhiều loài san hô

     - Bảo toàn nguồn vốn tự nhiên biển

     Khánh Hòa có tiềm năng bảo tồn biển rất cao, và khu bảo tồn biển (KBTB) được xem là một công cụ quản lý hữu hiệu để bảo toàn nguồn vốn tự nhiên và tính bền vững của các vùng biển, để duy trì và phát triển các ngành kinh tế biển dựa vào bảo tồn thiên nhiên, như nghề cá, du lịch và các dịch vụ đi kèm. Cho nên, quản lý tốt các KBTB sẽ tạo thêm hiệu ứng phục hồi và hiệu ứng phát tán (hiệu ứng tràn - Spillover Effect) các chất dinh dưỡng và nguồn giống thủy sản ra vùng biển chung quanh. Trước mắt, Khánh Hòa cần triển khai thực hiện tốt Kế hoạch phục hồi vịnh Nha Trang đến năm 2030[7], và nhân rộng mô hình Rạn Trào ở cấp cộng đồng. Cần mở rộng diện tích bảo tồn biển ở vùng biển ven bờ kết hợp du lịch sinh thái biển và nghề cá giải trí. Triển khai công tác quản lý KBTB đảo Nam Yết thuộc huyện đảo Trường Sa gắn với hoạt động quốc phòng, an ninh. Áp dụng rộng rãi mô hình “Đồng quản lý nguồn lợi thủy sản” theo tinh thần của Luật Thủy sản 2017.   

     - Quản lý tổng hợp biển và vùng bờ biển theo cách tiếp cận không gian

     Các hệ thống tài nguyên biển, đảo và vùng ven biển cung cấp tiềm năng phát triển đa ngành và có tính liên kết. Các hoạt động phát triển ở ven biển và trên biển đều có tác động trực tiếp hay gián tiếp xuống biển. Cho nên, để bảo đảm chất lượng môi trường biển cho phát triển bền vững kinh tế biển, tỉnh phải quản lý từ nguồn thải/gây ra ô nhiễm thông qua cơ chế phối hợp liên ngành, liên vùng và liên cơ quan với sự tham gia của các bên liên quan (Stakeholder) và cộng đồng địa phương. Công cụ chính hỗ trợ quá trình này là phân vùng chức năng (Function zoning) sử dụng không gian vùng ven biển và vùng biển, đảo để tăng tính tương thích trong khai thác, sử dụng cùng một vùng biển, giảm thiểu mâu thuẫn lợi ích và xung đột không gian trong khai thác giữa các bên. Tiến hành “Quản lý tổng hợp lưu vực sông và vùng bờ”, bao gồm kiểm soát chất thải, trong đó có rác thải nhựa theo góc nhìn “từ nguồn ra biển” (from Source to Sea – S2S)[8]. Luật Quy hoạch (2017) ra đời tạo căn cứ pháp lý để tiếp tục thúc đẩy việc triển khai áp dụng “Quy hoạch không gian biển quốc gia”, tỉnh nên chủ động tham gia sớm vào quá trình quy hoạch này. Đây cũng là phương thức quản lý biển và kinh tế biển theo không gian để thực hiện gắn kết với Mục tiêu Phát triển bền vững (SDG) số 6 (nước ngọt) và 14 (biển) mà Việt Nam cam kết thực hiện đến năm 2030[9].

     - Phục hồi, tái tạo các hệ sinh thái biển - ven biển đã bị suy thoái

     Tập trung vào trồng mới và khôi phục các hệ sinh thái biển (rừng ngập mặn, rạn san hô và thảm cỏ biển đã bị suy thoái nhằm tái tạo, bảo vệ khu vực sinh sản và phát triển của các loài sinh vật biển, trong đó có nhiều đặc hải sản, cũng như bảo tồn các giá trị tự nhiên của chúng phục vụ mục đích phát triển du lịch sinh thái, v.v. Các địa phương trong tỉnh có rừng ngập mặn tăng cường vai trò quản lý nhà nước của các cấp chính quyền địa phương, đặc biệt là chính quyền cơ sở và cơ quan chuyên ngành lâm nghiệp, môi trường trong công tác bảo vệ và phát triển hiệu quả hệ sinh thái ven biển. Đây cũng là nhóm giải pháp ứng phó với biến đổi khí hậu và nước biển dâng, ưu tiên thích ứng và giảm thiểu tác động. 

     Thực hiện các dự án bảo tồn và phát triển hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển, các dự án trồng mới và tái sinh rừng ngập mặn (rừng tự nhiên, rừng phòng hộ ven biển); nghiêm cấm khai thác bãi bồi cửa sông để nuôi trồng thủy sản hoặc bán cát gây hủy hoại diễn thế tự nhiên bồi tụ và phát triển của rừng ngập mặn non trẻ. Thực hiện tốt phong trào trồng cây để tăng nhanh diện tích phủ xanh của thảm rừng ngập mặn ven biển và thảm thục vật trên đảo để giữ nước, bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu. Tương tự như vậy, cần ưu tiên đầu tư phục hồi các rạn san hô, thảm cỏ biển để bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản, góp phần ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng đánh bắt cá bất hợp pháp (IUU).

     - Bảo tồn đa dạng sinh học biển, đảo gắn với du lịch sinh thái và sinh kế bền vững

     Để bảo tồn được đa dạng sinh học biển, đảo cần có phương án sử dụng hợp lý các lợi ích có được từ việc bảo tồn đa dạng sinh học trong các vùng biển và trên các đảo, như: phát triển du lịch sinh thái cấp cộng đồng, v.v.. Thông qua đó, các cộng đồng dân cư được tham gia các hoạt động bảo tồn và được sử dụng các giá trị có được từ bảo tồn để chuyển đổi nghề nghiệp và cải thiện sinh kế bền vững cho họ. Vì trên một số đảo ven bờ ở Khánh Hòa đều có các cụm dân cư sinh sống, cho nên cần chú ý cải thiện sinh kế và mức sống của người dân sống trong và lân cận các khu vực biển, đảo. Bảo tồn đa dạng sinh học biển, đảo gắn với bảo vệ môi trường, trước hết là rác thải nhựa, thu gom, phân loại và tổ chức vận chuyển vào bờ, không được vứt ra bãi biển và xuống biển.

     - Nâng cao nhận thức về tài nguyên, môi trường và chủ quyền biển, đảo

     Tuyên truyền, giáo dục thực sự là động lực cho phát triển kinh tế biển bền vững, cải thiện sinh kế và hỗ trợ xoá đói giảm nghèo cho các cộng đồng địa phương ven biển và trên các đảo, góp phần giữ vững môi trường hòa bình trên Biển Đông. Cho nên, công tác tuyên truyền, giáo dục về tài nguyên, môi trường và chủ quyền biển, đảo cần được tỉnh quan tâm, tiến hành thường xuyên cho các đối tượng trong xã hội, đặc biệt cho cộng đồng với các hình thức đa dạng, hiệu quả thực sự.

     - Một số giải pháp khác:

     + Xây dựng tiềm lực khoa học và công nghệ biển đạt trình độ khu vực và quốc tế; đào tạo nguồn nhân lực biển có chất lượng cao, có kỹ năng nghề biển đáp ứng yêu cầu đổi mới, hội nhập kinh tế quốc tế, phục vụ hiệu quả quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa kinh tế biển đất nước. Đặc biệt chú ý đào tạo và hỗ trợ cho con em ngư dân và người lao động nghèo trên biển vượt khó.

     + Đẩy mạnh và mở rộng hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực liên quan đến khoa học và công nghệ sạch hơn, thân thiện với môi trường biển, năng lượng biển tái tạo, các mô hình thích ứng với biến đổi khí hậu.

     + Chuyển dần từ kinh tế “tuyến tính”, nhiều chất thải, phế thải, hủy hoại tự nhiên sang kinh tế “tuần hoàn” với các chất thải, phế thải được tái sử dụng và trả lại thiên nhiên.

     + Rà soát, bố trí lại không gian phát triển và bảo tồn để bảo đảm tính liên kết và giảm thiểu xung đột lợi ích trong phát triển kinh tế biển ngay từ giai đoạn sớm của quá trình phát triển.

     + Lồng ghép các giải pháp thích ứng với biến đổi khí hậu và nước biển dâng vào các dự án phát triển ở vùng ven biển, biển, đảo; phòng chống hiệu quả và giảm thiểu thiệt hại do các thảm họa thiên tai, sự cố môi trường biển, ven biển, đảo.

     + Ngăn ngừa suy thoái và phục hồi các hệ sinh thái quan trọng, như rạn san hô, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển đã bị suy thoái gắn với bảo tồn, phục hồi hiệu quả đa dạng sinh học biển và nguồn lợi thủy sản, nguồn giống hải sản tự nhiên,... đang giảm sút. 

     + Gắn phát triển kinh tế biển xanh với xóa đói, giảm nghèo bền vững cho các cộng đồng dân cư ven biển, trên các đảo của tỉnh. Chú trọng giải quyết đồng bộ ba vấn đề: Ngư dân, Ngư nghiệp và Ngư trường để hướng tới nghề cá bền vững và có trách nhiệm.

     + Phát huy các giá trị văn hóa biển đặc trưng Việt Nam trong xây dựng và phát triển kinh tế biển xanh ở tỉnh Khánh Hòa./.

 


[1] Phó Chủ tịch thường trực Hội Nghề cá Việt Nam (VINAFIS), Uỷ viên Uỷ ban KHCNMT Quốc hội; nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế và Quy hoạch thuỷ sản (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn), nguyên Tổng cục phó Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam (Bộ Tài nguyên và Môi trường); Giảng viên cao cấp Đại học Quốc gia Hà Nội.

[2] Quần đảo Trường Sa có khoảng 100 đảo, đá, bãi cạn, bãi ngầm rạn san hô, phân bố rải rác trên một diện tích khoảng 180 ngàn km², bao gồm khoảng 25 đảo, bãi cạn nổi thường xuyên với tổng diện tích khoảng 10 km². Đây là huyện đảo xa bờ nhất của nước ta, thuộc tỉnh Khánh Hòa và là một trong 12 huyện đảo của Việt Nam.

[3] Tỉnh ủy Khánh Hòa (2021). Báo cáo Đề án “Tổng kết 10 năm thực hiện Kết luận số 53-KL/TW, ngày 24/12/2012 của Bộ Chính trị về xây dựng, phát triển tỉnh Khánh Hòa đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030”.

[4] Ban chấp hành TW (2022). Nghị quyết số 09/NQ-TW ngày 28/01/2022 của Bộ Chính trị về xây dựng, phát triển tỉnh Khánh Hòa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

[5] Nguyễn Chu Hồi (Chủ biên), 2018. Quản lý bền vững biển, đảo Việt Nam. Sách chuyên khảo, NXB Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội, 354 trang.

[6] Quyết định số 622/QĐ-TTg ngày 10/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững.

[7] Quyết định 742/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 26 tháng 5 năm 2010 tại đã phê duyệt quy hoạch hệ thống KBTB Việt Nam đến năm 2020 với danh mục 16 KBTB phân bố đại diện cho toàn vùng biển, trong đó Khánh Hòa có hai KBTB là: vịnh Nha Trang và Nam Yết.

[8] Nguyễn Chu Hồi, Đào Trọng Tứ, Bùi Thị Thu Hiền (2014). Khuyến nghị Chính sách: Quản lý tổng hợp lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn và vùng bờ biển Quảng Nam – Đà Nẵng, Việt Nam - Cách tiếp cận từ đầu nguồn xuống biển. Gland, Thụy Sĩ: IUCN, 32 trang.

[9] Thủ tướng Chính phủ (2017). Quyết định số 622/QĐ-TTg ngày 10 tháng 5 năm 2017 về việc ban hành Kế hoạch Hành động quốc gia Thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì Sự phát triển bền vững. Hà Nội.

 

Thông báo

Liên kết web

Trực tuyến
Hiện có: 67   Khách