“CÁC VUA HÙNG ĐÃ CÓ CÔNG DỰNG NƯỚC - BÁC CHÁU TA PHẢI CÙNG NHAU GIỮ LẤY NƯỚC” - NGÀY GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG (MÙNG 10 THÁNG 3 ÂM LỊCH) *** KỶ NIỆM 51 NĂM GIẢI PHÓNG TỈNH KHÁNH HÒA (4/1975 - 4/2026) VÀ 51 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG MIỀN NAM, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC (30/4/1975 - 30/4/2026) *** 72 NĂM NGÀY CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ (07/5/1954 - 07/5/2026) *** 136 NĂM NGÀY SINH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH (19/5/1890 - 19/5/2026) *** 120 NĂM NGÀY SINH ĐỒNG CHÍ HÀ HUY TẬP (24/4/1906 - 24/4/2026) *** 140 NĂM NGÀY QUỐC TẾ LAO ĐỘNG (01/5/1886 - 01/5/2026) *** 122 NĂM NGÀY SINH ĐỒNG CHÍ TRẦN PHÚ (01/5/1904 - 01/5/2026) *** 130 NĂM NGÀY SINH ĐỒNG CHÍ HỒ TÙNG MẬU (15/6/1896 15/6/2026) *** 156 NĂM NGÀY SINH V.I.LÊNIN (22/4/1870 - 22/4/2024) *** 208 NĂM NGÀY SINH C.MÁC (05/5/1818 - 05/5/2026)

Thứ Sáu, 25/09/2026 07:11
  23/12/2023 04:57        

Lịch sử dân tộc trong hành trang phát triển của Khánh Hòa

Lịch sử dân tộc trong hành trang phát triển của Khánh Hòa[1]

Nhà nghiên cứu Sử học Dương Trung Quốc

     1. Con số 370 năm mà chúng ta chọn để kỷ niệm chỉ là một cái mốc tương đối của lịch sử. Nó là kết quả của một lịch sử quan hệ bao gồm cả sự hòa hiếu và xung đột kéo dài giữa hai quốc gia cổ đại tồn tại trên lãnh thổ Việt Nam ngày nay là Đại Việt và Champa. Lịch sử đã chứng kiến và ghi nhận trong sử sách cuộc “bang giao hôn nhân” giữa Hoàng đế Trần Nhân Tông của Đại Việt với Chế Mân, Vua của Champa cũng như những lần quân Champa tiến đánh tới tận kinh đô Thăng Long của Đại Việt và ngược lại là những cuộc chinh phạt của quân Đại Việt ngày càng sâu vào lãnh thổ Champa. Và hệ quả của nó là bờ cõi Đại Việt không ngừng mở rộng xuống Phương Nam đồng thời vươn ra Biển Đông tiến tới hoàn chỉnh lãnh thổ quốc gia dưới triều Nguyễn.

     Lịch sử vùng đất tỉnh Khánh Hòa ngày nay bao gồm toàn bộ lịch sử từ khi con người tồn tại trên vùng đất này và đến nay là một một đơn vị hành chính cấp tỉnh của nước Việt Nam đương đại, trong đó có cộng đồng dân tộc Chăm và lịch sử Vương quốc Champa thời cổ đại ngược về tận cùng của quá khứ… Cũng có nghĩa là trước khi hình thành Vương quốc Champa có lúc phát triển đến cực thịnh thì chủ nhân (tiền chủ) của vùng đất này gắn với nền Văn hóa Sa Huỳnh nằm rải rác trên đất ven biển Nam Trung Bộ… Cũng như ở Nam Bộ, trước khi Vương quốc Khmer bành trướng tới thì đã có cư dân của Nền Văn hóa Óc Eo và Vương quốc Phù Nam.

     2. Tuy nhiên, việc nhận thức lịch sử tỉnh Khánh Hòa với cái mốc cách đây 370 năm nhằm nhấn mạnh đến những thay đổi to lớn khi mảnh đất này gắn kết, trở thành một phần hữu cơ của Đại Việt, một quốc gia vốn hình thành từ vùng trung du và đồng bằng Bắc bộ, không ngừng vừa nỗ lực chủ động hội nhập với nền Văn minh Trung Hoa để trở thành một phần của nền Văn minh Đông Á. Đồng thời để tồn tại và phát triển, dân tộc Việt Nam cũng nỗ lực chống trả sự đồng hóa bởi phương Bắc trong hơn một thiên niên kỷ Bắc thuộc với những chính sách đồng hóa rất khắc nghiệt.

     Đại Việt đã chọn con đường Nam tiến không chỉ đơn thuần để mở mang không gian sống mà quan trọng hơn là nhằm hội nhập để tích hợp với những giá trị văn hóa “phi Trung Hoa”, nơi chân trời rộng lớn của các quốc gia biển Đông Nam Á lúc này đã sớm hình thành như một cộng đồng văn hóa đa dạng. Khi di sản của Vương quốc Champa trở thành một bộ phận cả về lãnh thổ và cư dân thì nó đã bổ sung một nguồn lực mới cho Đại Việt, góp tăng sức đề kháng trước sức ép của Phương Bắc và tiếp tục làm phong phú hơn nền văn hóa bản địa.

     3. Khánh Hòa chính là phần phương Nam của đế quốc Champa (Tiểu Quốc Panduranga) và được định danh là Kauthara. Còn phần phía Bắc của đế quốc Champa (vùng Quảng Nam) thì đến năm 1471 đã thuộc về Đại Việt lấy Đèo Cả làm ranh giới.  Sau năm 1653, thì vùng đất mới của Champa sáp nhập vào Đại Việt được gọi là “Dinh Thái Khang”, qua đời Chúa Nguyễn Phúc Trăn (1867) thì đổi thành “Phủ Bình Khang”; đến Chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738) thì đổi thành “Dinh Bình Khang”. Ngay sau khi lập triều Nguyễn, từ 1803, Hoàng đế Gia Long đổi thành “Phủ Bình Hòa”, rồi “Trấn Bình Hòa” (1808). Phải đến năm 1832 thì Hoàng đế Minh Mạng trong cuộc cải cách lớn mới đặt đơn vị hành chính là “tỉnh” và tên mới là “Khánh Hòa”.

     Tên gọi “tỉnh Khánh Hòa” ở các đời vua sau không thay đổi nhưng diên cách của các đơn vị cấp dưới thì nhập tách nhiều lần. Chỉ đến năm 1975, Khánh Hòa cùng Phú Yên hợp thành “Tỉnh Phú Khánh” cho đến năm 1989 thì lại tách ra và Tỉnh Khánh Hòa được tái lập. Đến nay, tỉnh Khánh Hòa có 2 thành phố Nha Trang (thủ phủ) và Cam Ranh (trực thuộc tỉnh). Và thêm một sự bổ sung đặc biệt quan trọng là sự kiện tiếp nhận Huyện đảo Trường Sa vào tỉnh Phú Khánh từ 28-12-1982 và vào tỉnh Khánh Hòa từ 1-7-1989 với 3 đơn vị hành chính là Thị trấn (đảo) Trường Sa, các xã đảo Song Tử Tây và  Sinh Tồn…

     4. Là một trong 28 tỉnh và thành phố “có biển”, Khánh Hòa với 200km bờ biển (không tính bờ biển của hàng trăm đảo nổi và chìm cũng như nhiều vịnh nhỏ) kéo dài từ Đại Lãnh đến Cam Ranh, và theo cách tính khoa học thì phần lãnh thổ gắn với biển chiếm hơn nửa diện tích của tỉnh và nếu cộng cả vùng biển, vùng lãnh hải, thềm lục địa hay đặc quyền kinh tế thì diện tích gấp 8,5 lần đất liền), đó là chưa  kể đến vùng biển rộng lớn thuộc huyện đảo Trường Sa… 

     Trong 28 tỉnh thành có biển đảo của Việt Nam thì bờ biển Khánh Hòa là phần vươn ra Biển Đông xa nhất với nhiều dải đất nhô biển như các mũi Hòn Gốm, Hòn Ngang, Đá Chim, Gành, Đầm Nha Phu, Đầm Thủy Triều… Cỏ, Bàn Than, Đỏ, Hòn Thị, Con Rùa, Chụt, Đông Ba, Hòn Nai, Cam Linh, Đá Vách… và xa nhất (cực Đông) là Mũi Đôi. Địa hình ấy tạo ra nhiều bán đảo nhỏ gắn với các vịnh lớn như Vịnh Vân Phong, Vịnh Nha và Vịnh Cam Ranh nay đã được đánh giá là những vịnh biển tầm cỡ thế giới, cùng các đầm Môn, đầm Nha Phu, đầm Thủy Triều…

     Biển từ thời kỳ xa xưa là nguồn tài nguyên dường như vô tận về thủy sản, là cửa ngõ cho sự giao lưu phát triển, trong đó có sự giao lưu khu vực cả sự giao lưu với Phương Tây qua các tuyến hàng hải… Riêng quần đảo Trường Sa đã giúp Khánh Hòa (cùng với Hoàng Sa thuộc thành phố Đà Nẵng) vươn ra biển lớn trong mối giao lưu quốc tế trên Biển Đông và của công cuộc phòng thủ quốc gia…

     5. Trong các mối giao lưu với bên ngoài thì sự tiếp xúc với Văn minh Phương Tây đã mở ra cho Khánh Hòa một vị thế đặc biệt. Chính những quan niệm giá trị hiện đại của Phương Tây như khoa học, du lịch và bảo tồn di sản đã phát hiện những tiềm năng và nâng tầm vị thế của tỉnh Khánh Hòa trong tương quan với cả nước và quốc tế. Tất nhiên yếu tố Phương Tây trong hoàn cảnh lịch sử của Việt Nam ban đầu lại chính là sự chiếm đóng, cai trị của chủ nghĩa thực dân Pháp. Nhưng bên cạnh yếu tố tiêu cực, phản động của chủ nghĩa thực dân thì Văn minh Phương Tây và trực tiếp của nước Pháp cũng tạo ra những yếu tố tích cực cho sự phát triển lâu dài như một di sản khi công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam đã chấm dứt chế độ thuộc địa (1945).

     Năm nay (2023) cũng là thời điểm có ý nghĩa khi ta nhắc đến tên tuổi một con người điển hình cho Văn minh Phương Tây gắn với Việt Nam và đặc biệt là tỉnh Khánh Hòa. Đó là Jean Émile Alexandre Yersin mà ở Khánh Hòa ông mang một cái tên rất Việt Nam: “Ông Năm”. Sinh 22-9-1863 tức là năm nay kỷ niệm tròn 160 năm và mất ngày 1-3-1943 năm nay chúng ta vừa kỷ niệm 80 năm. Đọc tiểu sử của Bác sĩ Yersin, nhà bác học lớn của nhân loại, không thể không đặt ra câu hỏi: Vì sao ông đã chọn Khánh Hòa là nơi gắn bó trọn đời và sự nghiệp của mình? Cái gì khiến mong ước khi bước vào đời của Yersin là khi thành đạt sẽ đưa được Mẹ mình từ một miền đất nhỏ của Thụy Sĩ để đến sinh sống ở những nơi danh giá như Paris, London… nhưng khi đã thành danh Ông lại quyết định chọn và ở lại Việt Nam trên mảnh đất Nha Trang của Khánh Hòa? Đúng là “đất lành chim đậu” nhưng với Yersin chắc chắn đó không chỉ là sự lựa chọn thuần túy cảm tính cho khái niệm “đất lành”. Là bác sĩ của một con tàu viễn dương của Hãng Messagerie Maritimes khi chạy trên vùng duyên hải của tuyến đường Hải Phòng - Sài Gòn, Yersin có cơ hội quan sát vùng biển và bờ biển Việt Nam để cuối cùng ông đặt chân lên bờ và định cư trọn đời tại Khánh Hòa (1891). 

     Sự nghiệp của Yersin có lúc gắn với Hồng Kông trong chuyến trải nghiệm để phát hiện và phát minh phương pháp chống bệnh dịch hạch cho nhân loại. Cũng từ Khánh Hòa, Ông ra Hà Nội để đảm nhận việc xây dựng Trường đại học đầu tiên của Đông Dương. Ông gắn bó với hệ thống các Viện Pasteur từ Paris đến Hà Nội, Sài Gòn, Đà Lạt, Phnompenh… nhưng phòng thí nghiệm và Viện Pasteur ở Nha Trang mới là bản doanh khoa học của Ông. Rồi cũng chính xuất phát từ vùng biển Nha Trang qua những chuyến thám hiểm Yersin phát hiện ra Cao nguyên Lang bian để mở đường lên Đà Lạt và vùng Tây nguyên hùng vĩ. Cũng từ những vườn ươm trên đất Khánh Hòa, Yersin nghiên cứu và du nhập các loại cây làm giàu cho xứ sở Đông Dương như canhkina, cà phê, cao su… cũng như quan tâm đến việc chữa trị và bảo tồn các loại chim thú bản địa… Sinh thời khi nói đến sự lựa chọn này Yersin nhận xét Khánh Hòa là nơi “không lạnh, không nóng và yên bình” và trước khi từ trần ông đã trăn trối khi chôn cất được nằm xấp để ôm trọn mảnh đất mà ông đã gắn bó vào lòng.

     Tự cuộc đời của Yersin đã trả lời câu hỏi cũng về mảnh đất Khánh Hòa mà ông trọn đời gửi gắm.

Tự cuộc đời của Yersin đã trả lời câu hỏi cũng về mảnh đất Khánh Hòa mà ông trọn đời gửi gắm (ảnh: Tuổi trẻ Online).

     6. Trong con mắt rất thực tế của những nhà cai trị Pháp, mục tiêu thực dân cũng xác định được vị thế Khánh Hòa trong xứ Đông Dương thuộc địa. Hoàng đế Bảo Đại có thể chọn Khánh Hòa làm nơi xây biệt điện vì vẻ đẹp và khí hậu tuyệt vời của vùng biển này. Và thực tế cho thấy, trước khi Đà Lạt được Yersin phát hiện để trở thành thị trấn nghỉ dưỡng đầu tiên theo ý tưởng quy hoạch của Toàn quyền Paul Doumer thì cùng với Vũng Tàu (Cap Saint Jacques), Nha Trang với các vịnh tuyệt đẹp (Vân Phong, Nha Trang, Cam Ranh), và những bãi tắm thượng thặng như Đại Lãnh, Nha Trang đã là xứ sở của nghỉ dưỡng, trước hết với người Âu…

     Và khi người Pháp quyết định chọn Nha Trang làm trung tâm của việc nghiên cứu không chỉ với Biển Đông mà của cả vùng Viễn Đông thì hoàn toàn dựa vào những cơ sở khoa học để khẳng định: “Các yếu tố căn bản về địa chất, kiến tạo, địa hình đáy biển, chế độ khí hậu biển của biển Nha Trang tạo nên những điều kiện tối ưu có một không hai ở Việt Nam và cả vùng Đông Nam Á cho việc tiến hành nghiên cứu Hải Dương”. Vì thế người Pháp đã xây dựng tại Nha Trang một Viện Nghiên cứu Hải Dương học và sưu tầm để thành lập một bảo tàng có quy mô lớn và phong phú nhất không chỉ của Đông Dương mà của cả khu vực. Chính từ đây, chiếc tàu biển chuyên dụng mang tên “De Lanessan” (tên một Toàn quyền Đông Dương cũng là một nhà khoa học)  đã thực hiện những hải trình khảo sát, vẽ bản đồ, thu thập mẫu vật trên vùng biển các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong thập kỷ 30 của thế kỷ trước, nay đã trở thành những tài liệu vô giá về khoa học thiên nhiên cũng như bằng chứng chủ quyền của Việt Nam trên vùng biển này. 

     Cũng trên đất Khánh Hòa, người Pháp, đặc biệt với vai trò của Viện Viễn Đông Bác Cổ (EFEO) từ rất sớm đã tổ chức khảo sát và thực hiện công tác bảo tồn các giá trị của các nền văn hóa cổ đại từng có trên vùng đất này, trong đó có Tháp Bà Ponagar.

     Cùng với các di sản vật thể một hệ thống các di sản phi vật thể dưới hình thức các tập tục lễ hội đặc biệt liên quan đến biển là một tài sản quý giá được bảo tồn bền vững trong các cộng đồng cư dân Khánh Hòa. Tục thờ cúng Cá Voi (Ông Nam Hải), các lễ hội gắn với ngư dân, gắn với các nơi thờ tự (lăng) và lễ hội dân gian như Lễ hội cầu ngư, Lễ nghinh thủy triều, Lễ hội Tháp Bà… được bảo tồn cho đến ngày nay…

     Nói đến Khánh Hòa, người Pháp từ rất sớm không chỉ nhìn xuống Biển mà còn quan tâm đến 2 đặc sản rất đặc trưng của xứ sở này gắn với biển rộng, núi cao là Yến Sào và Trầm Hương. Nhiều công trình nghiên cứu khoa học đã được thực hiện bổ sung cho những tri thức rất có ích cho hôm nay, cho lợi ích muôn đời sau. 

     Kỷ niệm 370 năm ngày thành lập Khánh Hòa cũng chính là cơ hội chúng ta kiểm kê lại một cách sát sao những tài nguyên và tài sản của quá khứ, gắn với những giá trị phù hợp với nhu cầu phát triển của xã hội hiện tại, sẽ giúp ích cho công cuộc phát triển của Khánh Hòa và cả nước cùng tiến trình hội nhập với thế giới ở thời đại mà khoa học công nghệ phát triển vô cùng mạnh mẽ. Chính những di sản của quá khứ sẽ là bệ đỡ để sự tiếp nhận và hội nhập có cơ sở phát triển một cách bền vững trên mảnh đất Khánh Hòa.

     Hơn lúc nào, khi viết bản tham luận này tôi lại nhớ đến câu thơ rất mộc mạc của Thi sĩ Quách Tấn:               

“Khánh Hòa là xứ Trầm Hương

Non cao biển rộng người thương đi về…

Khánh Hòa đẹp lắm ai ơi

Vào Nam ra Bắc ghé chơi Khánh Hòa…”.

 


[1] Tiêu đề do Ban Biên tập đặt.

 

Thông báo

Liên kết web

Trực tuyến
Hiện có: 34   Khách