“CÁC VUA HÙNG ĐÃ CÓ CÔNG DỰNG NƯỚC - BÁC CHÁU TA PHẢI CÙNG NHAU GIỮ LẤY NƯỚC” - NGÀY GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG (MÙNG 10 THÁNG 3 ÂM LỊCH) *** KỶ NIỆM 51 NĂM GIẢI PHÓNG TỈNH KHÁNH HÒA (4/1975 - 4/2026) VÀ 51 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG MIỀN NAM, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC (30/4/1975 - 30/4/2026) *** 72 NĂM NGÀY CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ (07/5/1954 - 07/5/2026) *** 136 NĂM NGÀY SINH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH (19/5/1890 - 19/5/2026) *** 120 NĂM NGÀY SINH ĐỒNG CHÍ HÀ HUY TẬP (24/4/1906 - 24/4/2026) *** 140 NĂM NGÀY QUỐC TẾ LAO ĐỘNG (01/5/1886 - 01/5/2026) *** 122 NĂM NGÀY SINH ĐỒNG CHÍ TRẦN PHÚ (01/5/1904 - 01/5/2026) *** 130 NĂM NGÀY SINH ĐỒNG CHÍ HỒ TÙNG MẬU (15/6/1896 15/6/2026) *** 156 NĂM NGÀY SINH V.I.LÊNIN (22/4/1870 - 22/4/2024) *** 208 NĂM NGÀY SINH C.MÁC (05/5/1818 - 05/5/2026)

Thứ Sáu, 25/09/2026 07:11
  15/08/2023 02:59        

Văn hóa gắn với biển, đảo ở Khánh Hòa

Văn hóa gắn với biển, đảo ở Khánh Hòa

ThS. Hà Đỗ Quyên[1]

     Ba kiểu địa hình đặc trưng ở Khánh Hòa

     Khánh Hòa là tỉnh có đầy đủ các dạng địa hình cơ bản như vùng núi, đồng bằng ven biển, biển, bờ biển, đảo. Vùng núi ở Khánh Hòa chiếm khoảng 90% diện tích toàn tỉnh, tập trung chủ yếu ở phía Bắc, Nam và phía Tây với độ cao từ 1.000 - 2.000 m, cao nhất là đỉnh Hòn Giao (2.062 m)[2]. Đây là nơi cộng đồng các dân tộc Êđê, Raglai, K'ho sống từ lâu đời.

     Đồng bằng duyên hải của Khánh Hòa phân bố dọc từ Bắc vào Nam, bị chia cắt bởi các dãy núi đâm ngang ra biển; diện tích đồng bằng được khai thác trong trồng trọt rộng khoảng 400 km2, trong đó lớn nhất là đồng bằng Ninh Hòa (khoảng 100 km2) và đồng bằng Nha Trang - Diên Khánh (khoảng 130 km2)[3].

     Vùng ven biển của Khánh Hòa chiếm 54,8% diện tích toàn tỉnh với 2.860 km2, vùng biển ven bờ rộng khoảng 2.668,2 km2. Vùng biển Khánh Hòa bao gồm vùng lãnh hải (rộng 12 hải lý), tiếp giáp lãnh hải (rộng 24 hải lý), vùng thềm lục địa (độ sâu đến 200m) và vùng đặc quyền kinh tế (rộng 200 hải lý) có tổng diện tích hơn 44.400 km2, gấp hơn 8,5 lần diện tích đất liền của Khánh Hòa[4]. Với độ dài khoảng 385 km, Khánh Hòa là một trong những tỉnh có đường bờ biển đẹp của Việt Nam, với 3 vịnh lớn, nước sâu, đẹp nổi tiếng là: Vịnh Vân Phong, Nha Trang, Cam Ranh, và các đầm Nha Phu, Thuỷ Triều.

     Trường Sa là quần đảo lớn nhất, có diện tích hơn 160.000 km2 với vô số đảo san hô, cồn cát, rạn đá với nguồn tài nguyên biển giàu có và tầm quan trọng đặc biệt đối với quốc gia cả về kinh tế, chính trị và an ninh - quốc phòng.

     Tương ứng với 3 kiểu địa hình là ba vùng văn hóa...

     Văn hóa núi rừng, văn hóa đồng bằng và văn hóa biển - đảo. Theo các cứ liệu khảo cổ học, trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa ngày nay đã có sự xuất hiện của những nhóm người cổ sinh sống trên các địa hình khác nhau: Khu vực rừng núi có di chỉ Dốc Gạo (Khánh Sơn) có niên đại khoảng 3.000 năm, Ninh Trung, Ninh Tây (Ninh Hòa) cách nay khoảng 2.500 năm; khu vực đồng bằng có các di chỉ Diên Sơn (Diên Khánh), Ninh Thân, Đồng Thành (Ninh Hòa) có niên đại hơn 2.000 năm; khu vực ven biển và đảo ven bờ với các di chỉ: Xóm Cồn, Bình Ba, Bình Hưng (Cam Ranh) niên đại khoảng 4.000 năm, Bãi Trũ, Bích Đầm (Nha Trang) khoảng 3.500 năm, di chỉ Hòa Diêm (Cam Ranh), Hòn Thị, Ninh Phú (Ninh Hòa) cách nay khoảng 2.000 năm… Như vậy, ngay từ thời tiền và sơ sử, Khánh Hòa đã hình thành các trung tâm cư trú mang đậm sắc thái văn hóa vùng miền, trong đó, văn hóa biển mang tính chủ đạo và rất tiêu biểu qua sự phân bố của các di chỉ khảo cổ học nói trên. Có thể nói, điều kiện địa lý tự nhiên đã có những ảnh hưởng lớn đối với các tộc người cổ sinh sống trên mảnh đất này. Điều này đã có tác động tích cực trong việc tạo cho Khánh Hòa những nét riêng về văn hóa địa phương trong khi vẫn nằm trong diễn trình phát triển của lịch sử văn hóa dân tộc.

     ... Văn hóa biển - đảo ở Khánh Hoà nổi trội và đậm nét hơn cả

     Theo thư tịch cổ, từ khoảng thế kỷ thứ II - III đến giữa thế kỷ XVII sau Công nguyên, vùng đất Khánh Hòa ngày nay thuộc xứ Kauthara của người Chăm. Cư dân nơi đây vốn rất giỏi nghề đi biển, buôn bán bằng đường biển và khai thác biển trong lịch sử. Từ sau năm 1653, người Việt vào sinh sống, cộng cư với người Chăm; thời gian đầu, những trung tâm cư trú của người Việt vẫn là những làng cổ ven sông, ven biển ở Đại Lãnh, Tu Bông (Vạn Ninh), Hòn Khói, Ninh Phú (Ninh Hòa), Vĩnh Hải, Vĩnh Trường, Ngọc Hội, Bích Đầm (Nha Trang), khu vực tứ thôn Đại Điền, Thanh Minh, Trường Lạc (Diên Khánh)… Trải qua 370 năm hình thành và phát triển, Khánh Hòa có một nền văn hóa biển truyền thống của người Việt mà dấu ấn của nó luôn in đậm trong đời sống kinh tế, tinh thần rất dễ nhận biết. Người Việt mang theo những truyền thống khai thác kinh tế biển, truyền thống văn hóa, lối ứng xử với biển của cha ông (chủ nhân văn hóa biển phía Bắc) đến vùng đất mới một cách hữu thức và vô thức. Điều đó khiến cho sắc thái văn hóa truyền thống của Khánh Hòa vừa mang tính chất chung của dân tộc, vừa mang những yếu tố địa phương đặc sắc. Giá trị văn hóa biển - đảo của cư dân Khánh Hòa được thể hiện trong đời sống vật chất, xã hội và tinh thần của cư dân vùng đất này.

     Thứ  nhất, về đời sống văn hóa vật chất: Văn hóa biển - đảo in đậm dấu ấn trong các nghề truyền thống gắn với các loại tài nguyên biển của Khánh Hòa như các nghề khai thác, đánh bắt, chế biến hải sản (nghề làm nước mắm tại Cửa Bé (Vĩnh Trường, Nha Trang), làm muối tại Hòn Khói, Ninh Hòa và Ba Ngòi, Cam Ranh, làm lưới đăng, khai thác yến sào tại Hòn Nội, Hòn Ngoại…) hoặc các nghề thủ công (làm đồ mỹ nghệ bằng vỏ hải sản, đóng ghe thuyền…). Chỉ tính riêng đánh bắt cá, ở Khánh Hòa đã có trên 30 loại nghề khác nhau, quan trọng nhất là các nghề lưới rê (cản lộng, cản ba lường, lưới cước, lưới chuồn, lưới tôm), nghề câu, mành đèn, giã tôm, giã cá. Nắm bắt được đặc điểm tự nhiên của các loài cá thu, cá ngừ, cá bò di cư từ vùng biển phía Nam lên vùng biển phía Bắc từ tháng Chạp tới tháng 5 âm lịch, ngư dân Khánh Hòa đã phát kiến ra phương pháp đánh bắt độc đáo - nghề lưới đăng với quy mô lớn, lao động nhiều, sản lượng cao. Trước đây nghề lưới đăng ở Khánh Hòa là một đại hải nghệ, ngày nay, do sự phát triển của công nghệ, chỉ còn trên dưới chục sở đầm hoạt động, chủ yếu ở các làng đảo Khải Lương (Vạn Ninh) và Bích Đầm (Nha Trang). Hiện nay, các làng chài ở Vạn Giã, Vạn Ninh, Ninh Hòa, Nha Trang, Cam Ranh vẫn duy trì các tập quán đánh bắt, khai thác biển gần như với phương thức truyền thống (không tính chương trình đánh bắt cá xa bờ được triển khai tại Khánh Hòa từ năm 2015). Khai thác yến sào trên các vách đá tại các đảo ngoài khơi cũng là một nghề truyền thống, đặc trưng, có hiệu quả kinh tế cao của người dân Khánh Hòa. Nghề khai thác yến sào ở Khánh Hòa có lịch sử gần 300 năm; từ thời các chúa Nguyễn, đây là một nguồn lợi đáng kể trong hoạt động ngoại thương ở Đàng Trong được sử sách ghi lại. Ngày nay, khai thác yến sào đã trờ thành một nét văn hóa đặc trưng của Khánh Hóa, đồng thời đem lại giá trị kinh tế cao. Bên cạnh các phương thức khai thác tài nguyên biển truyền thống, ẩm thực cũng là một yếu tố thể hiện đậm nét văn hóa biển của người dân Khánh Hòa. Cư dân Khánh Hòa đã sáng tạo nên một nền văn hóa ẩm thực đặc sắc với nhiều món ăn mang đậm chất biển nổi tiếng như: Bánh canh cá, bún cá, bún sứa, gỏi cá mai, chả cá Ninh Hòa, lẩu mực Đại Lãnh, mắm nhĩ cá cơm Bình Tân…

Ảnh: Ngư dân sinh hoạt trên thuyền ở khu vực cửa sông Cái. Có thể thấy Hòn đá Chữ phía xa (nguồn: Tri thức và Cuộc sống).

Ảnh: Nghề khai thác tổ yến có từ lâu đời ở Khánh Hòa.

     Thứ hai, đời sống văn hóa xã hội: Các làng ven biển tại Khánh Hòa được thành lập dưới thời chúa Nguyễn. Ban đầu, cư dân vẫn duy trì thiết chế làng xã mô phỏng cách thức của làng xã nông nghiệp Bắc bộ. Sau này, nhận thấy tiềm năng lớn của Biển Đông, cư dân dần chuyển từ nghề nông sang đánh bắt cá. Từ đó, hình thành nên các làng/vạn chài dọc theo bờ biển. Làng/vạn chài của cư dân ven biển Khánh Hòa đã biến đổi dần từ chức năng của làng nông nghiệp sang làng ngư nghiệp. Họ lập ra vạn là tổ chức tự quản, có vạn trưởng để điều hành các công việc trong cộng đồng ngư dân, sắp xếp tổ chức cư dân và các sinh hoạt tâm linh, gia đình cũng liên quan đến vạn. Hiện nay, chức năng chính của vạn là tổ chức tế lễ và các hoạt động cộng đồng dưới sự quản lý của chính quyền địa phương. Có thể nói, giá trị văn hóa biển trong các tổ chức vạn và dòng họ, gia đình ven biển tại Khánh Hòa hòa quện vào nhau, trong đó, nổi bật nhất là giá trị đạo đức, cố kết cộng đồng và kết nối giữa giá trị truyền thống và hiện đại.

     Thứ ba, đời sống tinh thần: Biển có vai trò quan trọng trong đời sống cư dân Khánh Hòa, ghi dấu đậm nét trong đời sống tinh thần của cư dân nơi đây hàng trăm năm qua. Đời sống tín ngưỡng, tâm linh và các hình thức lễ hội của cư dân biển Khánh Hòa vốn rất gần gũi với các nhóm cư dân biển Nam Trung bộ. Đó là tục thờ cúng và lập lăng thờ Ông (cá voi), lễ hội Cầu ngư, lễ hội cúng đình… Trong đời sống cư dân biển Khánh Hòa, cá Ông (Nam Hải đại vương/ Nam Hải đại tướng quân) có vị trí đặc biệt quan trọng, là vị thần hàng đầu cai quản biển cả, đại diện cho lòng tốt, cái thiện, sự cứu giúp con người. Nhằm thể hiện lòng thành kính, cư dân gọi cá voi bằng “Ông”, khi Ông lụy (chết) thì cư dân tổ chức đám tang, lập đền, xây lăng chứa ngọc cốt (xương) để thờ. Tín ngưỡng này ghi dấu đậm nét trong đời sống người dân vùng biển Khánh Hòa và đã được nhà nước phong kiến “chuẩn hóa” thông qua các sắc phong cho Ông hiện còn được lưu giữ tại một số đình hiện nay. Ngoài thờ cá Ông, ngư dân Khánh Hòa còn thờ các vị thần biển, Bà chúa xứ, Bà chúa đảo… qua hình thức chung nhất là thờ ở miếu Hội đồng[5].

     Trải qua bề dày lịch sử 370 năm đấu tranh kiên cường, xây dựng và phát triển, Khánh Hòa hun đúc cho mình những giá trị lịch sử, văn hóa mà người dân nơi đây chắt lọc bao đời, tạo nên một truyền thống tốt đẹp, tô đậm bản sắc của xứ Trầm biển Yến, góp phần làm phong phú thêm kho tàng văn hóa của dân tộc Việt Nam. Cùng với những lợi thế về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, các giá trị lịch sử, văn hóa Khánh Hòa đã và đang trở thành nguồn lực có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, góp phần giữ vững quốc phòng, an ninh biển đảo của Tổ quốc, đồng thời là sức mạnh mềm, tạo vị thế cho Khánh Hòa trong quá trình hội nhập và phát triển ngày nay./.

 


[1] Viện Thông tin Khoa học,  Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Nguyên Giảng viên Đại học Khánh Hòa.

[2] Vũ Ngọc Phương, Khánh Hòa Nha Trang – Một tiềm năng một hiện thực, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2004, tr.35.

[3] Sđd, tr.39.

[4] PGS, TS. Đào Tuấn Thành, Khánh Hòa hội nhập và phát triển, Nxb.Khoa học xã hội, Hà Nội, 2022, tr.98.

[5] ThS. Nguyễn Văn Khánh (chủ biên), Tìm hiểu giá trị lịch sử và văn hóa truyền thống Khánh Hòa 350 năm, Nxb. Chính trị quốc gia sự thật, Hà Nội, 2003, tr.251.

 

Thông báo

Liên kết web

Trực tuyến
Hiện có: 34   Khách