Đặc trưng tính cách người Việt xứ Trầm hương qua góc nhìn địa văn hóa
ThS. Lê Khánh Mai
Địa văn hóa và Địa văn hóa Khánh Hòa
Trong sách Việt Nam cái nhìn địa - văn hoá, GS.Trần Quốc Vượng viết: “Văn hoá là một thực thể, có sự vận động trong không gian và thời gian. Nhìn theo chiều thời gian, văn hoá Việt Nam là một diễn trình lịch sử có những quy luật phát triển của nó. Nhìn trong không gian, văn hoá Việt Nam có sự vận động qua các vùng/ xứ /miền khác nhau. Bên cạnh đó, Việt Nam lại là một quốc gia đa tộc người. Những yếu tố đó tác động đến sự hình thành, phát triển bản sắc văn hoá Việt Nam”. [6, tr.5]. Ông nêu rõ: "Địa văn hóa là một cách tiếp cận và cắt nghĩa bản chất văn hóa Việt Nam bằng cách vẽ ra đường nét văn hóa ở các vùng miền khác nhau từ đó chỉ ra sự vận động văn hóa trong không gian" [6, tr. 308].
Về địa văn hóa Khánh Hòa, GS. Trần Quốc Vượng viết: Núi - Rừng - Biển - Đảo là những hệ sinh thái tự nhiên - nhân văn lớn của Khánh Hòa. Do núi chạy sát biển nên bờ biển Khánh Hòa có dạng răng cưa và xen kẽ những vũng - vụng bồi tụ, mài mòn cùng những bán đảo, đảo và quần đảo gần bờ. Có Vịnh có đảo, đảo granit có hang với các tổ chim yến. Đấy là không gian văn hóa yến sào. [7, tr. 14,15].
Trong khu vực duyên hải Nam Trung bộ, Khánh Hòa là vùng đất mà biểu tượng địa văn hóa núi rừng, biển đảo, đèo hòn được thể hiện một cách tập trung và đậm đặc nhất. Thiên nhiên đã ban tặng cho Khánh Hòa một không gian non nước hữu tình, một tiềm năng kinh tế phong phú, một nền văn hóa đa dạng. Cùng với những biến thiên lịch sử, những cuộc di dân mở đất về phương Nam, Khánh Hòa trở thành nơi giao thoa văn hóa giữa các dân tộc, các vùng miền trong khu vực và cả nước làm nên những sắc thái riêng độc đáo.
Núi – đèo - hòn
Đặc điểm địa hình tỉnh Khánh Hòa “núi non trùng điệp. Núi chiếm tỷ lệ cao, đa dạng về địa hình, địa thế và là nơi chứa đựng tài nguyên thiên nhiên dồi dào và những dấu tích lịch sử, văn hóa mang nhiều nét riêng. Nhiều câu chuyện dân gian giải thích nguồn gốc địa danh ở Khánh Hòa trong đó có tên núi, tên hòn, tên đèo: Núi Cô Tiên, Núi Bà Hậu, Núi Chúa, Núi Một, Núi Ổ Gà, Núi Dinh Ông... Hòn Bà, Hòn Chồng, Hòn Chão, Hòn Chữ, Hòn Dữ, Hòn Dù, Hòn Vung, Hòn Đỏ, Hòn Hèo, Hòn Lao, Hòn Gốm, Hòn Lớn, Hòn Ngang, Hòn Nội, Hòn Yến, Hòn Khô… Đèo Cả, Đèo Cổ Mã, Đèo Bánh Ít, Đèo Rù Rì…
Biển – đảo
Khánh Hòa có 385 km bờ biển với hơn 200 hòn đảo lớn nhỏ ven bờ xen giữa các đầm vịnh. Ngoài các đảo đá, Khánh Hòa còn có hàng trăm đảo san hô ở huyện đảo Trường Sa. Từ lâu đời, người Việt ở Khánh Hòa đã nương tựa vào biển để làm ăn sinh sống, tạo dựng làng mạc quê hương, đắp bồi truyền thống, trao gửi những tình cảm, quan niệm nhân sinh và thế giới tinh thần, tâm linh. Đồng thời biển cũng là một lực lượng thiên nhiên kỳ vỹ và bí ẩn chi phối mạnh mẽ đời sống của con người.
Khí hậu, phong cảnh, sản vật
Khí hậu Khánh Hòa có đặc tính ôn hòa, như Quách Tấn nhận xét: “Mưa nắng rất điều độ và mùa mưa không “lạnh cắt ruột”, “lạnh nhức xương” như ở Huế, ở Cao nguyên. Trong mưa có khí ấm, trong nắng có khí mát”. Quả là cái mưa, cái nắng cũng có mối thâm tình với con người, với quê hương xứ sở.
Phong cảnh thiên nhiên Khánh Hòa đa dạng, kỳ vĩ và khoáng đạt: “non cao, biển rộng”, “đá dựng tứ bề”, “mặt biển chân trời”, “sóng bể mịt mù”, “chốn mênh mông”, “miền sơn thủy” “đèo cao đốc trượt”, “Sông suối giao kề”, “Sông Dinh con nước chảy vòng”, Sông Cái mang nguồn nước dồi dào, gió Tu Bông hào phóng, mãnh liệt, “chim nhạn bay liều trong mưa”… gợi lên sức sống tiềm tàng vượt lên bão tố của con người nơi đầu sóng ngọn gió của giải đất cực Nam Trung bộ.
Khánh Hoà có nhiều sản vật quý, nhiều thức ăn ngon. Đặc biệt trầm hương, yến sào là đặc sản quí hiếm mà thiên nhiên đã dành tặng cho vùng đất này cả về số lượng và chất lượng. Vì thế Khánh Hoà còn có tên gọi thứ hai là Xứ Trầm Hương.
Đặc trưng tính cách người Việt xứ Trầm hương
Người Việt xứ Trầm hương
Sự ra đời của Dinh Thái Khang với tư cách là một đơn vị hành chính vào năm 1653 là cột mốc đánh dấu việc thiết lập chủ quyền của người Việt trên vùng đất Khánh Hòa. Vốn có nguồn gốc từ các dinh, trấn Thuận Hóa, Quảng Nam và châu thổ sông Mã, sông Hồng theo chân chúa Nguyễn trong quá trình di dân mở đất về phương Nam, người Việt mang theo các nghề truyền thống, phong tục tập quán, tín ngưỡng, lối sống và vốn liếng văn hóa, giao lưu và tiếp thu văn hóa của các tộc người ở vùng đất mới làm nên bản sắc văn hóa người Việt ở Khánh Hòa.
Về ngôn ngữ, theo Quách Tấn: “Người Khánh Hòa không có tiếng nói nào khác hơn tiếng Việt. Giọng nói giống Bình Định, Phú Yên, Ninh Thuận, Bình Thuận. Những người không rành, không thể phân biệt được điểm khác trong chỗ lên xuống nặng nhẹ của giọng nói 5 tỉnh miền Nam Trung phần”.
Về tính tình, người Khánh Hòa thuần hậu, hiền hòa, không thích tranh đấu, không thích mạo hiểm phiêu lưu. Phần đông lấy chữ nhàn làm quí… Làm đủ ăn đủ mặc, học đủ hiểu đủ biết. Không ham làm giàu, không ham làm quan. Cho nên thái độ ung dung nhàn nhã. Chẳng những lúc thái bình, cả lúc chiến tranh cũng vậy, người Khánh Hòa ít chộn rộn, ồn ào. Không phải không có nhiệt huyết. Bề ngoài ngó lợt lạt, nhiều khi thờ ơ, nhưng bên trong rất thâm hậu. Không chơi với người thời thôi, chớ một khi đã làm bạn rồi thì trước sau như một…” [2. tr 350-351]
Người Khánh Hòa trong lao động, đấu tranh và quan hệ xã hội
Trong lao động
“Người Kinh di cư đến Khánh Hòa mang theo nền văn minh nông nghiệp trồng lúa nước từ lâu đời của tổ tiên… Bên cạnh nghề trồng lúa nước là chủ đạo, người Kinh còn tạo ra nghiều nghề khác như chăn nuôi, đánh bắt cá biển, làm ruộng muối và các nghề thủ công truyền thống…” [7, tr 54]. Nhiều cái tên địa danh, tên sự vật, như: Vạn Giã, Cửa Giã, Cửa Vạn, Giã Chợ Giã, lưới giã... đã minh chứng cho sự tồn tại lâu đời của nghề đánh bắt cá biển ở Khánh Hòa. Theo Quách Tấn, tên gọi Vạn Giã nguyên do từ tên hai cửa biển của vịnh Vân Phong là Cửa Vạn và Cửa Giã hợp lại mà thành. [9, tr.141]. Vạn là làng chài dọc theo vịnh biển hay cửa sông; Giã cách gọi tắt của lưới giã, biển giã chỉ về nghề đi biển nói chung. Nơi đây nổi tiếng là vùng biển giàu, thiên nhiên ưu đãi, “Cơm trước mặt, cá sau lưng”, đời sống nhân dân sung túc, an vui. Nghề biển là một nghề gian nan, khó nhọc, rủi ro, hiểm nguy rình rập, đòi hỏi một tinh thần lao động bền bỉ, dũng cảm, nhiều khi chấp nhận mất mát. Nhưng người dân yêu biển, sống chết với biển, biết ơn trời và các vị thần linh phù hộ cho những mùa màng bội thu.
Bên cạnh nghề làm ruộng, đi biển, Khánh Hòa còn có nhiều nghề thủ công truyền thống khác như nghề gốm cổ truyền, nổi tiếng là làng Trung Dõng (Vạn Bình, Vạn Ninh), Sơn Bình (Diên Khánh), Lư Cấm (Phương sài, Nha Trang). Chợ Thành, bến đò Thành Diên Khánh một thời chưa xa từng diễn ra cảnh mua bán sầm uất, nhộn nhịp. Hình ảnh những chiếc ghe chở gốm tấp nập trên dòng sông Cái sống mãi trong kí ức bao người: Cầu Thành ghe gốm lên rồi/ Sao chưa đi chợ còn ngồi chi đây.
Những cánh đồng muối trải dọc duyên hải Khánh Hòa: Vựa muối Hòn Khói (Ninh Hòa), Cam Ranh như chứng tích kỳ vĩ về vị mặn của biển khơi hòa quyện cùng mồ hôi lao động, kết đọng nên nghĩa tình sâu nặng của con người với biển quê hương. Những giá trị văn hóa tinh thần, thuần phong mỹ tục, những chuẩn mực đạo đức xã hội được nhìn nhận, đúc kết qua lao động. Có thể nói sự đa dạng về ngành nghề sản xuất, bản chất hiền lành, siêng năng, bền bỉ vượt khó của người Khánh Hòa là những phẩm chất quý báu tạo nên cuộc sống của xứ sở này ổn định, phong lưu hơn so với những vùng đất khác.
Trong đấu tranh
Người Khánh Hoà có lòng yêu quê hương đất nước sâu đậm, trân trọng giá trị cao quí của độc lập tự do, đấu tranh kiên cường bất khuất chống giặc ngoại xâm. Lịch sử còn ghi những trang đau thương mà quật khởi về các sĩ phu ứng nghĩa Cần Vương chống Pháp cuối thế kỷ XIX: Biển Cù nước mãi còn sâu/ Công linh chẳng trước thì sau cũng thành. Câu ca dao khiến ta nhớ về Bình Tây đại tướng Trịnh Phong, người làng Phú Vinh, Vĩnh Xương, (nay là Vĩnh Thạnh, Nha Trang) đã lãnh đạo nhân dân Khánh Hòa hưởng ứng Hịch Cần Vương của vua Hàm Nghi chống thực dân Pháp. Do lực lượng không cân sức, cuộc chiến đấu thất bại nhưng tấm gương chiến đấu hy sinh bất khuất của Trịnh Phong và các nghĩa binh của ông mãi mãi được nhân dân ghi lòng, tạc dạ..
Tấm gương yêu nước, quả cảm trong chiến đấu, dâng hiến tấm lòng trung nghĩa sắt son cho quê hương của ba ông: Trần Đường, Trịnh Phong, Nguyễn Khanh như ngọn lửa thắp sáng truyền thừa, như mạch nguồn tuôn chảy trong tâm hồn dân tộc. Nhân dân đã tôn xưng ba ông là “Khánh Hòa Tam Kiệt”.
Vùng đất Tu Bông, Quảng Phước xưa nổi tiếng là nơi hội tụ những anh hùng hào kiệt. Tham trấn Phạm Chánh và con trai Phạm Long cùng Hiệp trấn Nguyễn Sum đã phát động nhân dân, tập hợp nghĩa quân, xây dựng lực lượng, tổ chức những trận đột kích khiến quân địch tổn thất nặng nề. Phạm Chánh bị Việt gian bắt nộp cho Pháp. Phạm Long cùng ông Nguyễn Sum phải nạp mình cho giặc, nguyện sống chết cùng nhau để cứu dân thoát khỏi sự tàn sát của kẻ thù và bảo toàn khí tiết. Nhân dân ghi ơn tôn xưng ba ông là “Quảng Phước tam hùng”. Khi phong trào Cần Vương chống Pháp thất bại, tâm trạng của sĩ phu và nhân dân phủ lên màu buồn đau, tiếc nuối, nhưng tinh thần quật khởi của nhân dân không thể gì dập tắt. Người Khánh Hòa đã thể hiện thái độ đúng đắn, khách quan trước những biến cố lịch sử, động viên nhau vững tâm, nuôi giữ niềm tin son sắt đối với những giá trị thiêng liêng của quê hương đất nước: Gươm linh sút cán còn trành/ Bình hương dẫu bể miểng sành còn thơm.

Ảnh: Lễ cắt băng khánh thành Đền thờ Trần Đường (một trong ba "Tam kiệt" của Khánh Hòa)
Trong quan hệ xã hội
Dưới chế độ phong kiến, những vùng đất dù khác nhau cũng đều chung một gầm trời. Bất công, đau khổ, đói nghèo là căn bệnh vô phương cứu chữa nhưng người Khánh Hoà ít khi than thân, trách phận hay bất mãn, phản kháng. Quan hệ xã hội ở Khánh Hòa chủ yếu là mối quan hệ giữa người với người trong cộng đồng làng xã, cùng chung một môi trường lao động, cơ bản là bình đẳng. Rất ít khi xuất hiện mối quan hệ kiểu bề trên, bề dưới, kẻ áp bức, người bị bóc lột. Có lẽ lịch sử vùng đất Khánh Hòa với 370 năm là khoảng thời gian chưa đủ dài để hình thành những làng quê phong kiến cổ truyền như ở Bắc bộ.
Người Khánh Hòa nhìn nhận vấn đề giàu nghèo như chuyện đời muôn thuở, dù trong hoàn cảnh nào vẫn giữ tâm thế bình thản, ung dung và nuôi hy vọng đổi đời: Đừng than cái áo rách tay/ Trời kia ngó lại vá may mấy hồi.
Trong sinh hoạt, giao tiếp, người Khánh Hòa coi trọng cách ứng xử nhẹ nhàng, thân thiện, trọng nghĩa tình, trọng dũng khí, nâng niu vun đắp những giá trị nhân văn, dìu đỡ nhau trong khó khăn hoạn nạn, động viên nhau đứng dậy sau những vấp váp, thất bại. Có thể hình dung diện mạo người Khánh Hoà: yêu nhiều hơn ghét, thương nhiều hơn giận, lấy hoà khí làm trọng, không ưa đấu lý, lao động chăm chỉ, luôn luôn giữ niềm tin trong trẻo vào những giá trị tốt đẹp: Dó lâu năm dó thành kỳ/ Đá kia lăn lóc có khi thành vàng.
Kết luận
Địa văn hóa Khánh Hòa với những yếu tố tự nhiên núi, hòn, biển, đảo... những sản vật quý trầm hương, yến sào... tạo nên không gian khoáng đạt, hùng vĩ, cảnh trí tươi đẹp, nên thơ và tiềm năng kinh tế dồi dào. Con người Khánh Hòa hiền lành, chất phác, ân nghĩa, thủy chung, cần cù lao động, kiên cường bất khuất chống giặc ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc; tiếp thu, gìn giữ và phát huy những nét đẹp truyền thống về phong tục tập quán, tính cách tâm hồn, tâm tư khát vọng và đời sống tâm linh... Tất cả làm nên bản sắc văn hóa của con người và vùng đất này; là mạch nguồn vô tận nuôi dưỡng tâm hồn các thế hệ người Việt ở Khánh Hòa.
Đó là những giá trị bền vững, là nền tảng và động lực phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội tỉnh Khánh Hòa, góp phần cho đất nước mạnh giàu.
Đề xuất, kiến nghị
Đề nghị Tỉnh Ủy, UBND tỉnh chỉ đạo các cơ quan chức năng quan tâm triển khai nhiều hơn nữa công tác nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn, đặc biệt là các đề tài nghiên cứu về văn hóa địa phương Khánh Hòa, góp phần thực hiện Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII: “Xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”.
Đề nghị các cơ quan văn hóa có thẩm quyền đẩy mạnh hơn nữa công tác sưu tầm, tập hợp, nghiên cứu hệ thống hóa các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể trên vùng đất Khánh Hòa.
Đề nghị các cơ quan truyền thông tăng cường và nâng cao chất lượng tuyên truyền về nhiệm vụ bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa ở Khánh Hòa./.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Trần Việt Kỉnh (2008), Truyền thuyết dân gian Khánh Hòa, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
2. Trần Việt Kỉnh (2006), Văn hóa dân gian Khánh Hòa vài nét đặc trưng, Nxb Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
3. (2003), Địa chí Khánh Hòa (2003), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
4. Văn hóa học đại cương và cơ sở văn hóa Việt Nam(1996), Nxb Khoa học Xã hội, HN.
5. Quách Tấn (1992), Xứ Trầm Hương, Nxb Tổng hợp Khánh Hoà.
6. Trần Quốc Vượng (1998), Việt Nam cái nhìn địa văn hóa, Nxb Văn hóa Dân tộc, - Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, Hà Nội.
7. Văn hóa phi vật thể Khánh Hòa (1999), Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.