“CÁC VUA HÙNG ĐÃ CÓ CÔNG DỰNG NƯỚC - BÁC CHÁU TA PHẢI CÙNG NHAU GIỮ LẤY NƯỚC” - NGÀY GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG (MÙNG 10 THÁNG 3 ÂM LỊCH) *** KỶ NIỆM 51 NĂM GIẢI PHÓNG TỈNH KHÁNH HÒA (4/1975 - 4/2026) VÀ 51 NĂM NGÀY GIẢI PHÓNG MIỀN NAM, THỐNG NHẤT ĐẤT NƯỚC (30/4/1975 - 30/4/2026) *** 72 NĂM NGÀY CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN PHỦ (07/5/1954 - 07/5/2026) *** 136 NĂM NGÀY SINH CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH (19/5/1890 - 19/5/2026) *** 120 NĂM NGÀY SINH ĐỒNG CHÍ HÀ HUY TẬP (24/4/1906 - 24/4/2026) *** 140 NĂM NGÀY QUỐC TẾ LAO ĐỘNG (01/5/1886 - 01/5/2026) *** 122 NĂM NGÀY SINH ĐỒNG CHÍ TRẦN PHÚ (01/5/1904 - 01/5/2026) *** 130 NĂM NGÀY SINH ĐỒNG CHÍ HỒ TÙNG MẬU (15/6/1896 15/6/2026) *** 156 NĂM NGÀY SINH V.I.LÊNIN (22/4/1870 - 22/4/2024) *** 208 NĂM NGÀY SINH C.MÁC (05/5/1818 - 05/5/2026)

Thứ Sáu, 25/09/2026 07:12
  18/07/2024 00:00        

Trường Đại học Nha Trang - Một số thành tựu nghiên cứu nhằm thực hiện mục tiêu đẩy mạnh phát triển nuôi trồng hải sản trên biển và hải đảo

     Việt Nam có bờ biển dài, vùng đặc quyền kinh tế biển rộng lớn, vị trí địa lý chiến lược với nhiều tiềm năng phát triển kinh tế biển. Biển Đông còn là ngôi nhà của hàng nghìn loài hải sản nhiệt đới rất phong phú, trong đó nhiều loài có giá trị kinh tế cao như cá chim, cá mú, cá vược, tôm hùm, bào ngư, các loài nhuyễn thể… Với đường bờ biển dài, nhiều eo vịnh, đảo, nước ta có tiềm năng to lớn để phát triển ngành nuôi trồng thủy sản trên biển.

     Bộ NN&PTNT cho biết, lĩnh vực nuôi biển cũng đã được Đảng, Chính phủ xác định là động lực phát triển kinh tế với nhiều chính sách đã được ban hành, điển hình là Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045 đã được phê duyệt với tầm nhìn, mục tiêu, giải pháp cụ thể.

Chủ trương phát triển nuôi biển đã được Đảng, Nhà nước xác định tại Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Quyết định số 339/QĐ-TTg ngày 11/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ ban hành "Chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045", Quyết định số 985/QĐ-TTg ngày 16/8/2022 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình quốc gia phát triển nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2021-2030 và Quyết định số 1664/QĐ-TTg ngày 4/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển nuôi trồng thủy sản trên biển đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

     Mục tiêu đến năm 2030, nuôi biển nước ta đạt sản lượng 1,45 triệu tấn, giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 1,8 đến 2 tỷ USD. Phát triển nuôi biển không chỉ thúc đẩy kinh tế-xã hội mà còn góp phần bảo vệ nguồn lợi hải sản cho tương lai, giảm áp lực khai thác, hình thành ngành thủy sản "Minh bạch - trách nhiệm - bền vững", có kiểm soát, được quản lý, theo khuyến nghị của quốc tế, để tạo dựng hình ảnh quốc gia có trách nhiệm đối với các vấn đề có tính toàn cầu.

     1. Một số thành tựu nghiên cứu nhằm thực hiện mục tiêu đẩy mạnh phát triển nuôi trồng hải sản trên biển và hải đảo

     Hiện nay, Viện Nuôi trồng Thủy sản, Trường Đại học Nha Trang đã thành công trong nghiên cứu sinh học và sản xuất giống, cũng như nuôi thương phẩm một số loài cá biển, giáp xác, nhuyễn thể và rong biển. Ngoài ra, các đề tài và dự án khác tập trung vào nghiên cứu và phát triển thức ăn công nghiệp cho cá mú, cá chim vây vàng, cá hồng Mỹ, cá bớp và tôm hùm. Các thành tựu này cung cấp nền tảng quan trọng cho việc xây dựng các mô hình nuôi trồng hải sản, từ sản xuất giống đến nuôi thương phẩm, nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của ngành nuôi trồng hải sản.

     1.1. Cá biển

     Bắt đầu nghiên cứu từ 1996 đến nay, 04 dự án nước ngoài tài trợ (NUFU, NORAD, CARD), 02 dự án SXTN cấp Nhà nước, cấp Bộ, 03 đề tài NAFOSTED, 04 đề tài cấp Bộ, 07 đề tài cấp tỉnh, 03 dự án chuyển giao công nghệ cho các tỉnh (Chương trình NTMN): Ninh Bình, Khánh Hòa, Ninh Thuận.Các đối tượng cá biển nghiên cứu: cá chẽm, cá chẽm mõm nhọn, cá chim vây vàng, cá hồng bạc, cá dìa, cá mú, cá giò, cá hồng Mỹ, cá sủ đất, cá bè vẫu, cá khế vằn và cá khoang cổ.

     Cá chẽm (Lates calcarifer): Bắt đầu nghiên cứu sản xuất giống 1996 (đề tài tỉnh). Đã nghiên cứu hoàn thiện kỹ thuật sản xuất giống, đến 2004 sản xuất thương mại, chuyển giao cho dân (dự án NUFU) ở các tỉnh như Khánh Hòa, Bà Rịa - Vũng Tàu, Sóc Trăng và Kiên Giang. Điến nay, cá chẽm giống được sản xuất ở nhiều địa phương trên cả nước, số lượng con giống đủ đáp ứng cho nhu cầu nuôi, tiêng Trường Đại học Nha Trang hàng năm sản xuất và cung ứng khoảng 3 - 5 triệu con cá chẽm giống cho người nuôi. Nghiên cứu nuôi thương phẩm bằng thức ăn công nghiệp được thực hiện năm 2008 - 2010 (Đề tài SUDA), quy trình nuôi trong ao đạt năng suất 20 tấn/ha/vụ, với chu kỳ nuôi 9 - 10 tháng, cỡ cá thu hoạch 0,8 - 1,0 kg từ cá giống cỡ 5 - 6 cm, hệ số FCR từ 1,4-1,5; nuôi lồng đạt năng suất: 10 – 17 kg/m3, chu kỳ nuôi 8 - 9 tháng, cá thu hoạch cỡ 0,9 - 1,2 kg từ cỡ giống 8 - 10 cm, hệ số FCR 1,6 - 1,7. Hiện nay quy trình này đang được áp dụng rộng rãi.

     Cá chim vây vàng (Trachinotus spp): Cá sinh trưởng nhanh, dễ nuôi công nghiệp trong lồng, ao nước lợ, mặn. Đối tượng này được bắt đầu nghiên cứu sản xuất giống từ năm 2009, từ năm 2009 - 2015 nghiên cứu hoàn thiện kỹ thuật sản xuất giống, nuôi thương phẩm, nghiên cứu SX thức ăn CN thông qua các chương trình nghiên cứu là 02 đề tài tỉnh, 01 dự án SXTN cấp Bộ, 01 dự án SXTN cấp Nhà nước, 03 dự án CGCN. Đến nay quy trình sản xuất giống và nuôi thương phẩm đã khá hoàn thiện và đã được chuyển giao cho một số tỉnh như Ninh Bình, Nghệ An, Khánh Hòa và Ninh Thuận, quy trình nuôi thương phẩm cũng được áp dụng rộng rãi thông qua các chương trình khuyến ngư. Các loài cá chim đã sản xuất là cá chim vây ngắn (Trachinotus falcatus), cá chim vây dài (T. blochii). Số lượng giống sản xuất hàng năm tại các tỉnh Nam Trung bộ khoảng 8 - 10 triệu con giống, riêng Trường Đại học Nha Trang sản xuất khoảng 3 - 5 triệu con giống của 2 loài này mỗi năm.

     Cá hồng Mỹ/đù đỏ (Sciaenops ocellatus): Đối tượng này được đưa vào nghiên cứu sản xuất giống, nuôi thương phẩm năm 2014 - 2016 và hiện đã chuyển giao công nghệ tại Khánh Hòa. Loài cá này lớn nhanh, dễ nuôi, nuôi được cả trong lồng, ao nước lợ, mặn từ khu vực ven biển Thừa Thiên Huế đến Kiên Giang, tập trung nhiều ở tỉnh Khánh Hòa và Bà Rịa – Vũng Tàu. Hiện nay kỹ thuật sản xuất giống khá ổn định tại Khánh Hòa, hàng năm trong tỉnh sản xuất được khoảng 3 - 4 triệu con giống, trong đó cơ sở của Trường Đại học Nha Trang sản xuất được khoảng 1 - 1,2 triệu con giống cỡ 5 - 6 cm mỗi năm.

     Cá bớp/cá giò (Rachycentron canadum): Sản xuất giống nhằm mục đích thương mại từ 2010 đến nay, kỹ thuật sản xuất tương đối ổn định. Cá bớp giống được sản xuất hàng năm tại Khánh Hòa đủ đáp ứng cho nhu cầu nuôi tại các tỉnh Nam Trung bộ và Nam bộ, trong đó các cơ sở của Trường Đại học Nha Trang sản xuất hàng năm từ 200.000 - 300.000 con giống cỡ 10 - 12 cm. Những nghiên cứu liên quan: nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng cho cá giống, cá thương phẩm (Dự án NORAD), khảo nghiệm thức ăn công nghiệp cho nuôi thương phẩm cho Cty Marine Farrm, đề tài cấp cơ sở về sản xuất giống và nuôi thương phẩm.

     Cá mú/cá song (Epinephelus spp): Trung tân NC giống và dịch bệnh TS và các cơ sở khác thuộc Trường đã sản xuất giống nhằm mục đích thương mại từ 2012 đến nay, tỷ lệ sống vẫn còn khá thấp (thường dưới 5%). Các loài sản xuất như cá mú đen (Epinephelus coioides, E. tauvina), cá mú trân châu (cá lai giữa cá mú cọp và mú nghệ). Những nghiên cứu liên quan như nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng cho cá giống, cá thương phẩm, bảo quản tinh. Khảo nghiệm thức ăn công nghiệp cho nuôi thương phẩm thông qua dự án CARD, đề tài Nafosted, khảo nghiệm thức ăn.

     Cá chẽm mõm nhọn (Psammoperca waigiensis): Đây là loài có giá trị kinh tế cao nhưng sinh trưởng chậm. Nghiên cứu sinh học và sản xuất giống từ năm 2000 - 2002 và nghiên cứu nuôi thương phẩm (thử nghiệm) từ 2002 - 2004 thông qua đề tài SUMA. Hiện nay đang nghiên cứu cơ chế nội tiết kiểm soát hoạt động sinh sản, nghiên cứu bảo quản tinh thông qua dự án NORAD, đề tài Nafosted. Đến nay kỹ thuật sản xuất giống và nuôi thương phẩm loài cá này đã ổn định. Mặc dù giá bán cá thương phẩm cao, tuy nhiên do cá chậm lớn (200 - 300g/năm nuôi) nên ít được người nuôi quan tâm.

     Cá hồng bạc (Lutjanus argentimaculatus): Nghiên cứu sinh học sinh sản, sản xuất giống và thử nghiệm nuôi thương phẩm bằng thức ăn công nghiệp từ năm 2007 - 2014 thông qua đề tài cấp Bộ Giáo dục và Đào tạo và cấp tỉnh Khánh Hòa. Kết quả sản xuất giống tỷ lệ sống thấp, cá chậm lớn khi nuôi thương phẩm bằng thức ăn công nghiệp, đặc biệt năm thứ nhất và nhu cầu của người nuôi không lớn.

     Cá dìa công (Siganus guttatus): Được nghiên cứu về sinh học sinh sản, cơ chế nội tiết, bảo quản tinh cá và sản xuất giống từ năm 2011 đến nay thông qua đề tài cấp tỉnh Khánh Hòa, đề tài Nafosted. Đây là loài cá ăn thực vật, có giá trị kinh tế cao, rất phù hợp cho các mô hình nuôi ghép. Tuy nhiên, kỹ thuật sản xuất giống khó, tỷ lệ sống của cá con thấp, kỹ thuật chưa ổn định.

     Cá sủ đất (Nibea diacanthus): Đây là loài cá có tiềm năng ở khu vực Nam Trung bộ do lớn nhanh, giá trị kinh tế cao có thể nuôi trong lồng trên biển và ao nước lợ, mặn. Đối tượng này được nghiên cứu xây dựng quy trình sản xuất giống và nuôi thương phẩm tại Khánh Hòa từ đầu năm 2017 và đến cuối năm sản xuất được trên 50.000 con giống và thử nghiệm nuôi thương phẩm cho thấy cá phát triển khá tốt. Tuy nhiên do ảnh hưởng của cơn bão số 12 năm 2017 làm mất toàn bộ cá bố mẹ và cá thương phẩm nên chương trình nghiên cứu phải dừng lại. Hiện nay, đang gây nuôi lại đàn cá bố mẹ để tiếp tục phục vụ cho mục tiêu sản xuất giống và nuôi loài cá này. 

     Cá bè đưng/cá khế vằn (Gnathanodon speciosus), cá bè vẫu (Caranx ignobilis): Đây là những đối tượng nuôi mới, hiện các nhóm nghiên cứu của Viện Nuôi trồng Thủy sản đang nghiên cứu về sinh học sinh sản, sản xuất giống hai loài cá này. Với cá khế vằn hiện này quy trình sản xuất giống và nuôi thương phẩm khá ổn định, hàng năm sản xuất được 300.000 - 400.000 con giống, tỷ lệ sống đạt 8 - 16%. Mặc dù loài cá này dễ nuôi, sử dụng tốt thức ăn công nghiệp, thịt thơm ngon, giá bán cao song cá lại chậm lớn (500 - 600 g/ năm nuôi) nên chưa thực sự hấp dẫn người nuôi. Trong khi đó cá bè vẫu là loài sinh trưởng nhanh, có thể phát triển nuôi công nghiệp, nhiều người nuôi quan tâm, song tỷ lệ sống trong sản xuất giống còn rất thấp (tỷ lệ sống khi ương giống đạt dưới 3%). Do vậy, đối tượng này cần tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện kỹ thuật sản xuất giống.

     1.2. Nhuyễn thể và rong biển

     Các loài động vật thân mềm đã và đang được nghiên cứu tại Trường Đại học Nha Trang gồm nghêu lụa, ngao, ốc đĩa, vẹm, sò huyết, bào ngư và ốc nhảy thông qua các đề tài cấp tỉnh, Bộ và cấp cơ sở. Các nghiên cứu tập trung vào đặc điểm sinh học sinh sản, xây dựng quy trình sản xuất giống và thử nghiệm nuôi thương phẩm. Tuy nhiên các nghiên cứu mới dừng ở quy mô nhỏ, chưa có những mô hình sản xuất đại trà.

     Những nghiên cứu trên rong biển cũng rất hạn chế, chủ yếu thông qua các đề tài cấp cơ sở. Những nghiên cứu tập trung vào đặc điểm phân bố, cơ chế sinh sản, ảnh hưởng của muối dinh dưỡng, ánh sáng lên sinh trưởng của rong. Đây là những nghiên cứu cơ bản làm nền tảng cho việc xây dựng quy trình sản xuất giống và nuôi trồng rong biển. Các loài rong đã nghiên cứu gồm rong hồng vân, rong sụn, rong nho, rong mứt.

     1.3. Tôm hùm

     Thông qua các chương trình nghiên cứu cấp Bộ, cấp Nhà nước, đến nay đã nghiên cứu thiết lập được công thức thức ăn công nghiệp cho tôm hùm bông và tôm hùm xanh. Đã thiết lập được các quy trình ương tôm hùm giống từ tôm trắng lên tôm bọ cạp, từ tôm bọ cạp lên tôm giống cỡ 20 - 30 g và nuôi tôm thương phẩm.

Việc thử nghiêm nuôi tôm hùm bằng thức ăn công nghiệp sẽ góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường, hạn chế nguy cơ bùng phát dịch bệnh, cũng như giảm sức ép khai thác cá tạp làm thức ăn cho tôm, đồng thời giúp người nuôi chủ động hơn về nguồn thức ăn. Tuy nhiên, việc nghiên cứu sử dụng thức ăn công nghiệp thay thế cá tạp nuôi tôm hùm cũng còn nhiều hạn chế như tôm sinh trưởng chậm, tỷ lệ sống thấp và màu sắc kém hơn so với cho ăn bằng cá tươi. Bên cạnh đó, giá thành của thức ăn công nghiệp thử nghiệm còn khá cao.

     2. Nghiên cứu hệ thống nuôi cá biển bằng mương nổi đặt trong ao

     Chương trình nghiên cứu thông qua dự án CARD do Chính phủ Australia tài trợ “Nuôi thâm canh cá biển trong ao bằng mương nổi” được nghiên cứu từ năm 2004 - 2007. Hệ thống mương nổi có những ưu điểm như mật độ nuôi cao, dễ kiểm soát thức ăn, cỡ cá và dịch bệnh, kỹ thuật vận hành đơn giản, tiết kiệm nhân công, hạn chế tác động xấu lên môi trường và đang được sử dụng nhiều ở các nước như Nhật Bản, Úc, Mỹ. Phía Việt Nam đã ương một số loài cá biển từ giống nhỏ lên giống lớn thành công như cá chẽm đạt tỷ lệ sống trên 80%, năng suất từ 40 - 60 kg/m3; cá mú đạt tỷ lệ sống trên 95%, năng suất 20 - 25 kg/m3. Phía Australia: nuôi thương phẩm cá đục, cá sủ thương phẩm đạt năng suất từ 80 - 120 kg/m3. Hệ thống này phù hợp cho ương cá biển từ giống nhỏ lên giống cỡ lớn với số lượng lớn. Điều này rất cần thiết đối với các trang trại nuôi cá biên quy mô lớn với nhu cầu cá giống cho một lần thả lớn.

     3. Một số giải pháp phát triển sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá biển

     Hiện nay, các trại sản xuất giống cá biển ở khu vực ven bờ phát triển chủ yếu với quy mô vừa và nhỏ, sử dụng nhiều kỹ thuật sản xuất khác nhau dẫn đến chất lượng cá giống không đồng đều và số lượng sản xuất mỗi đợt không lớn, gây khó khăn trong đáp ứng nhu cầu nuôi của các trang trại công nghiệp quy mô lớn sử dụng lồng tròn HDPE (kiểu lồng Nauy). Vì vậy, việc phát triển từng bước hệ thống trại sản xuất giống cá biển đại với quy mô phù hợp cho từng giai đoạn là cực kỳ cần thiết. Các trại này cần được trang bị đầy đủ hệ thống để đảm bảo chất lượng và truy xuất nguồn gốc con giống, đồng thời cung cấp sản lượng giống đủ để đáp ứng nhu cầu nuôi biển.

     Để thúc đẩy việc này, có thể chuyển đổi các trung tâm nghiên cứu và sản xuất giống quốc gia cùng các trung tâm giống cấp 1 của các tỉnh ven biển thành các doanh nghiệp khoa học công nghệ sản xuất giống, có quy mô lớn và sử dụng công nghệ hiện đại, thu hút đầu tư xã hội hóa để nâng cấp và hiện đại hóa.

     Ngoài ra, việc xây dựng mô hình sản xuất trứng cá biển thụ tinh là rất quan trọng. Mỗi vùng sản xuất giống cá biển nên tập trung phát triển 3 - 5 cơ sở sản xuất trứng thụ tinh cho mỗi loài cá nuôi chủ lực như cá chẽm, cá mú, cá bớp, cá chim vây vàng, cá hồng Mỹ và cá bè. Điều này giúp đảm bảo cung cấp trứng thụ tinh chất lượng cao và ổn định cho các trại ương cá giống tại địa phương, từ đó thúc đẩy sản xuất cá giống đồng loạt với số lượng lớn, phục vụ cho nuôi cá thương phẩm công nghiệp quy mô lớn.

     Để giảm thiểu tỷ lệ hao hụt khi nuôi cá giống kích thước nhỏ ra ngoài biển và đảm bảo năng suất và chất lượng sản phẩm, cần phát triển mô hình ương cá giống lớn hơn, từ cỡ 3 - 4 cm lên cỡ 8 - 10 cm. Các mô hình ương trong mương nổi và mương nước chảy đã chứng minh có thể đáp ứng các yêu cầu này và có thể được áp dụng phổ biến tại Việt Nam.

     Đối với việc nuôi cá biển công nghiệp, cần phát triển các mô hình nuôi trên vùng biển sâu và mở để giảm thiểu tác động đến môi trường và nguy cơ dịch bệnh. Các mô hình này nên sử dụng các kiểu lồng tròn nổi (kiểu Nauy) bằng nhựa HDPE, lồng nổi bằng kết cấu thép, và các loại lồng hình cầu chìm và bán chìm có khả năng chịu sóng gió và biến động thời tiết tốt. Các loài cá thích hợp cho mô hình này bao gồm cá chẽm, cá chim vây vàng, cá hồng Mỹ và cá bè, những loài có giá trị kinh tế cao và lợi thế cạnh tranh trên thị trường.

     Cuối cùng, để cải thiện hiệu quả nuôi lồng quy mô nhỏ vùng ven bờ, cần xây dựng lại quy trình nuôi phù hợp với trình độ quản lý của người nuôi, đồng thời cải tiến quy hoạch và giám sát môi trường. Hạn chế số lượng lồng nuôi và quy định quy mô sản lượng cho mỗi trại sẽ giúp đảm bảo sản phẩm có chất lượng đồng nhất và phù hợp với tiêu chuẩn xuất khẩu./.

Hoàng Thị Thảo (Tổng hợp)

 

Thông báo

Liên kết web

Trực tuyến
Hiện có: 67   Khách