Việc triển khai Nghị quyết số 23-NQ/TW là một động lực thúc đấy kinh tế, văn hóa, y tế, giáo dục, khoa học – công nghệ phát triển
- Kinh tế Khánh Hòa tăng trưởng khá. Quy mô kinh tế của tỉnh (theo giá hiện hành) năm 2019 tăng gấp 7,5 lần so với năm 2003. Do ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19, năm 2020 và 2021 chỉ tăng lần lượt gấp 7,0 lần và 6,9 lần so với năm 2004. So với các tỉnh, thành phố trong vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải Trung Bộ, quy mô kinh tế của tỉnh Khánh Hòa năm 2019 đứng thứ 5/14, năm 2020 đứng thứ 7/14 và năm 2021 đứng thứ 9/14. So với cả nước, quy mô kinh tế của tỉnh Khánh Hòa năm 2019 đứng thứ 22/63, năm 2020 đứng thứ 30/63 và năm 2021 đứng thứ 34/63. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân tỉnh Khánh Hòa giai đoạn 2005 - 2019 là 8,4%/năm; giai đoạn 2005 - 2020 là 7,2%/năm và năm 2021 là -5,58%. GRDP bình quân đầu người (theo giá hiện hành) năm 2019 gấp 6,8 lần năm 2004. Do ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19, GRDP bình quân đầu người 2020 chỉ gấp 6,3 lần năm 2004 và năm 2021 gấp 6,1 lần năm 2004. 9 tháng đầu năm 2022, GRDP của tỉnh tăng 20,48%, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 25,4%, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 63.532,2 tỷ đồng, tăng 57,9% so cùng kỳ (tương đương 103% kế hoạch năm 2022); ngành du lịch tỉnh Khánh Hòa tiếp tục phục hồi ấn tượng với doanh thu du lịch đạt 10.801,1 tỷ đồng, tăng 5,5 lần so với cùng kỳ (tương đương 270% kế hoạch năm 2022), số lượt khách lưu trú tăng 4,4 lần, thu hút 156.000 lượt khách quốc tế, tăng 7,7 lần so với cùng kỳ; kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tăng 28,1%, đạt 1.206,8 triệu USD, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tăng 108,6%, đạt 1.306,5 triệu USD; thu ngân sách nhà nước đạt 12.235,8 tỷ đồng, bằng 101,8% dự toán và tăng 22,9% cùng kỳ năm trước… và nhiều chỉ tiêu kinh tế xã hội khác đều có mức tăng trưởng vượt kế hoạch.
- Phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi: đến năm 2021 thu nhập bình quân đầu người của người là dân tộc thiểu số đạt trên 14 triệu đồng, tăng gần 12 lần so với năm 2005; 99,7% xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi có đường ô tô đến trung tâm xã theo tiêu chuẩn quy định của Bộ Giao thông vận tải; 98,2% thôn vùng dân tộc thiểu số có đường ô tô đến trung tâm được cứng hóa; 93,8 số thôn có nhà sinh hoạt cộng đồng người dân tộc thiểu số.

Ảnh: Đường vào trung tâm huyện miền núi Khánh Vĩnh (ảnh VOV)
- Về văn hóa: 100% cấp xã (xã, phường, thị trấn) đều có điểm sinh hoạt văn hóa phục vụ nhu cầu giao lưu, sinh hoạt cho người dân”. Các hoạt động văn hóa được duy trì như "Ngày văn hóa các dân tộc - ngày 19/4 hàng năm", phong trào thi đua xây dựng "làng văn hóa, gia đình văn hóa", "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa"... được diễn ra thường xuyên, góp phần nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần, đẩy lùi các phong tục tập quán lạc hậu, mê tín dị đoan trên địa bàn miền núi. Đối với di sản văn hóa, đã sưu tầm hơn 300 hiện vật gốc có giá trị tiêu biểu, điển hình về đời sống văn hóa các cộng đồng dân tộc thiểu số. Bản sắc văn hóa các dân tộc được tôn trọng, giữ gìn và phát huy (trang bị bộ mã la cho các đội văn nghệ cơ sở, dạy hát sử thi), đặc biệt, năm 2012, Lễ bỏ mả của người dân tộc Raglai được Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch công nhận là di sản phi vật thể Quốc gia.
- Về y tế: Công tác khám, chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân được chú trọng; cơ sở hạ tầng và trang thiết bị khám, chữa bệnh được đầu tư, nâng cấp. Công tác dân số, kế hoạch hóa gia đình, chăm sóc sức khỏe trẻ em đạt kết quả tích cực. Đề án “Xây dựng và phát triển mạng lưới y tế cơ sở trong tình hình mới” được đẩy mạnh. Đến nay, 100% trạm y tế đạt bộ tiêu chí quốc gia về Y tế; công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản, cải thiện từng bước sức khỏe bà mẹ và trẻ em trong toàn tỉnh, đặc biệt là giảm tử vong mẹ và tử vong trẻ em dưới 1 tuổi được chú ý.
- Về giáo dục - đào tạo: Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác dạy và học tiếp tục được đầu tư theo hướng kiên cố hóa, chuẩn hóa. Đa số các trường học các cấp đều có phòng học bộ môn theo quy định. Thiết bị, đồ dùng dạy học tiếp tục được tăng cường và bổ sung hàng năm đáp ứng yêu cầu phục vụ công tác dạy và học. Theo ước tính đến tháng 10/2022, toàn tỉnh hiện có 8.304 phòng học thông thường, cơ bản đáp ứng đủ nhu cầu học tập của học sinh các cấp học; trong năm học 2022 - 2023, số giáo viên là 15.490 người (công lập 13.349 người, ngoài công lập 2.141 người), tổng số học sinh trong toàn tỉnh là 293.426 người (trong đó, công lập: 262.156, ngoài công lập: 31.270).
- Về khoa học - công nghệ: Tỉnh chú trọng nhiệm vụ khoa học - công nghệ có khả năng thương mại hóa, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Tập trung ưu tiên khuyến khích doanh nghiệp tham gia nghiên cứu khoa học, ứng dụng đổi mới công nghệ, xây dựng mô hình liên kết và phát triển chuỗi giá trị sản phẩm. Đẩy mạnh công tác tuyển chọn tổ chức, cá nhân chủ trì thực hiện các nhiệm vụ khoa học - công nghệ công khai, minh bạch trên các phương tiện thông tin đại chúng; mời các chuyên gia có uy tín, có chuyên môn sâu trong và ngoài tỉnh tham gia vào các Hội đồng khoa học và công nghệ tư vấn xác định nhiệm vụ, đánh giá nghiệm thu nhiệm vụ khoa học và công nghệ, qua đó góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ. Đến tháng 6/2022, các trường, viện, đơn vị nghiên cứu khoa học trên địa bàn tỉnh như: Đại học Nha Trang, Viện Hải Dương học, Viện nghiên cứu Ứng dụng Công nghệ Nha Trang, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản III... đã có hàng trăm công trình khoa học được công bố tại các hội thảo quốc tế và trên các hệ thống tạp chí như: ISI, SSCI, Scopus, ESCI, SCIE; 39 sáng chế và giải pháp hữu ích được bảo hộ trong nước. Riêng Đại học Nha Trang, Viện Hải Dương học có 614 công trình khoa học được công bố trên các tạp chí quốc tế.
Công tác Mặt trận có nhiều đổi mới cả về phương thức và nội dung hoạt động
Vai trò của các giai cấp, tầng lớp nhân dân và chính quyền trong thực hiện các chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc ngày càng được phát huy. Trong đó, với vai trò nòng cốt trong đoàn kết, tập hợp nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội đã không ngừng đổi mới, nâng cao chất lượng hiệu quả công tác tuyên truyền, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, mở rộng và đa đạng hóa hình thức tập hợp nhân dân tham gia là thành viên của Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội. Nhân dân được động viên, khích lệ tích cực tham gia vào các phong trào thi đua yêu nước như phong trào: “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; “Cả nước chung tay vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau”; “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” “Đoàn kết, sáng tạo, nâng cao chất lượng, hiệu quả, hội nhập quốc tế”; “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”; “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam”; “Mái ấm cho người nghèo nơi biên giới, hải đảo”; chương trình “Nối vòng tay lớn”,…. Qua đó, đã vận động quà, tiền với giá trị trên 116 tỷ đồng; hỗ trợ xây mới 1.300 nhà đại đoàn kết (50 triệu đồng/nhà), sửa chữa 2.500 nhà đại đoàn kết cho hộ nghèo; hỗ trợ cho hàng ngàn hộ nghèo xây dựng và sửa chữa nhà ở, hỗ trợ quà tết, học sinh nghèo hiếu học, người cao tuổi, phụ nữ khó khăn, thanh niên yếu thế, đồng bào dân tộc thiểu số có hoàn cảnh khó khăn, tổ chức khám, chữa bệnh miễn phí, giải quyết việc làm, mua sắm phương tiện sản xuất, ủng hộ ngư dân vươn khơi bám biển, bảo vệ chủ quyền biển đảo của Tổ quốc, luôn lấy lợi ích chính đáng của người dân làm lợi ích trọng tâm của tổ chức. Phong trào giúp nhau phát triển kinh tế, thoát nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng được đông đảo đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia, với 132 mô hình hiệu quả như: Hỗ trợ cho vay không lấy lãi; giúp nhau vần đổi ngày công lao động, tín chấp Ngân hàng Chính sách xã hội, hỗ trợ phát triển kinh tế gia đình... Vận động nhân dân tích cực chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, chuyển đổi và xây dựng các mô hình sản xuất, chăn nuôi nhằm giúp hộ dân phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo; vận động nhân dân tự nguyện đóng góp tiền hơn 4.450 triệu đồng, hiến trên 110 nghìn mét vuông đất và vật tư các loại để tham gia làm đường giao thông nông thôn, đường nội đồng, bê tông kênh mương phục vụ tưới tiêu, sửa chữa trường học. Vận động nhân dân tham gia đóng góp xây dựng, bảo vệ các công trình văn hóa lịch sử, thể thao, vui chơi, giải trí, từng bước nâng cao mức hưởng thụ về văn hóa của mỗi người dân; tính đến tháng 10/2022 toàn tỉnh có 61/92 xã (66,3%) được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới; không còn xã dưới 10 tiêu chí; số tiêu chí đạt chuẩn nông thôn mới bình quân chung trên địa bàn toàn tỉnh là 16,4 tiêu chí/xã.
Công tác an sinh xã hội, hỗ trợ nhân dân bị thiệt hại do dịch bệnh, thiên tai, bão lũ được chú trọng thực hiện với nhiều hình thức phong phú, thiết thực, được sự chia sẻ chung tay đóng góp của các tổ chức, các doanh nghiệp, các cơ quan, đơn vị, lực lượng vũ trang, các tôn giáo, các nhà hảo tâm trong và ngoài tỉnh[1], kịp thời hỗ trợ hàng chục nghìn phần quà cho người dân gặp khó khăn, bị thiệt hại do ảnh hưởng của dịch bệnh, thiên tai, bão lũ, hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ đồng bào dân tộc thiểu số có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, góp phần giúp người dân sớm ổn định cuộc sống, khôi phục sản xuất kinh doanh.
Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã hội đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, tập trung hướng mạnh về cơ sở; thực hiện tốt vai trò là người đại diện, bảo vệ quyền lợi chính đáng, hợp pháp của đoàn viên, hội viên; phát huy tốt vai trò của Nhân dân trong giám sát, tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền, phát huy tốt vai trò nồng cốt trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc và đồng thuận xã hội. Các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động xã hội rộng lớn do Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên phát động gắn với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được triển khai thực hiện ngày càng đi vào cuộc sống, được các tầng lớp nhân dân hưởng ứng tích cực. Công tác giám sát, phản biện xã hội; tham gia phòng, chống tham nhũng, lãng phí tiếp tục có chuyển biến tích cực. Công tác phối hợp giữa Ủy ban Mặt trận Tổ quốc với các cơ quan Đảng, chính quyền và các tổ chức thành viên ngày càng chặt chẽ và có hiệu quả thiết thực hơn, công tác đại đoàn kết dân tộc trên địa bàn tỉnh ngày càng được củng cố và phát huy.Thành tích đạt được qua 20 năm triển khai, thực hiện Nghị quyết 23-NQ/TW là rất lớn. Nhiệm vụ thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 23-NQ/TW và các chủ trương của Đảng về xây dựng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh vẫn được tiếp tục quán triệt.
Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên cần tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, bám sát cơ sở, phát huy vai trò nòng cốt xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; thực hiện hiệu quả các cuộc vận động, các phong trào thi đua yêu nước góp phần thực hiện hiệu quả nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội hơn nữa.
Bùi Thanh Trúc
(Ban Dân vận Tỉnh ủy Khánh Hòa)