Đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực ở trường phổ thông nhìn từ góc độ tâm lý học - giáo dục học

     Đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực nhìn từ góc độ Tâm lý học – Giáo dục học là rất quan trọng và cần thiết trong giai đoạn hiện nay mà Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04 tháng 11 năm 2013. Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã xác định “Đổi mới hình thức, phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết qủa giáo dục theo hướng đánh giá năng lực của người học”.

     1. Đặt vấn đề

     Hơn lúc nào hết, việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực nhìn từ góc độ Tâm lý học – Giáo dục học là rất quan trọng và cần thiết trong giai đoạn hiện nay mà Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04 tháng 11 năm 2013. Hội nghị lần thứ Tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã xác định “Đổi mới hình thức, phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết qủa giáo dục theo hướng đánh giá năng lực của người học”[1].... Vì vây, chúng tôi cho rằng việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực nhìn từ góc độ Tâm lý học – Giáo dục học là vấn đề có ý nghĩa vô cùng quan trọng, là cần thiết trong yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.

     2. Nội dung

     2.1. Thực trạng vận dụng việc đổi mới phương pháp dạy học trong thời gian qua dưới góc nhìn Tâm lý học và Giáo dục học.

     Trong thực tế vẫn còn một bộ phận giáo viên chưa “nhập cuộc”, vẫn lên lớp giảng dạy với những phương pháp rất đỗi quen thuộc: chỉ thuyết trình hoặc thuyết trình kết hợp một số rất ít các câu hỏi đàm thoại. Thực tế ấy có thể do giáo viên ngại đổi mới mà cũng có thể là do giáo viên lúng túng chưa biết nên đổi mới phương pháp ra sao?; Cách tiếp cận kiến thức Tâm lý học - Giáo dục học của một bộ phận giáo viên chưa phù hợp và khoa học. Vấn đề đặt ra là đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh là thế nào? Vận dụng các phương pháp dạy học hiện đại dưới góc nhìn Tâm lý học - Giáo dục học ra sao? Phương pháp dạy học truyền thống có nên sử dụng nữa hay không?,... 

     Nguyên nhân chủ yếu của thực trạng trên là do:

     - Nhận thức của cán bộ, giáo viên ở các nhà trường về dạy học tích hợp và đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng tích hợp nhằm phát triển năng lực người học chưa đầy đủ, sâu sắc;

     - Hoạt động triển khai đổi mới phương pháp dạy học ở số đông các trường chưa quyết liệt, chưa hiệu quả, còn mang tính tự phát của từng giáo viên; 

     - Nhìn chung, giáo viên ở các nhà trường tuy năng động, nhanh nhạy đổi mới phương pháp dạy học, song kinh nghiệm, trình độ sư phạm của một bộ phận giáo viên còn hạn chế mặc dù đa số các nhà trường đã trang bị khá đầy đủ, chu đáo các điều kiện về cơ sở vật chất, kiến thức và việc vận dụng Tâm lý học và Giáo dục học còn hạn chế,..

     - Thực tiễn đáng bàn là để “an toàn”, giấu khuyết điểm về hạn chế năng lực sư phạm, nhiều giáo viên ngại đổi mới, bằng lòng với phương pháp truyền thụ “một chiều” và “vốn kinh nghiệm” sẵn có của mình, chưa vận dụng Tâm lý học - Giáo dục học một cách nghiêm túc trong quá trình dạy học, chưa quan tâm đến việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, tự nghiên cứu, sự tranh luận, thảo luận của học sinh. Đó thật sự là những trở ngại to lớn cho quá trình dạy học ở nhà trường phổ thông, nhưng không phải là không thể vượt qua. 

     2.2. Đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực dưới góc nhìn Tâm lý học - Giáo dục học.

     2.2.1. Một số vấn đề lý luận về năng lực

     - Theo Weinert: “Năng lực là một số sở hữu của cá nhân, đó là những khả năng mà cá thể có được nhờ cái kết hợp giữa cái sẵn có và cái học tập được về các kỉ năng nhận thức, khả năng giải quyết vấn đề cụ thể, các ý chí, động lực liên quan, sự sẵn sàng hoạt động xã hội. Những yếu tố này giúp mỗi người thành công trong việc xử lý các sự cố và có trách nhiệm trong các tình huống khác nhau” [2; tr 17]. Nói cách khác, năng lực là khả năng hành động giải quyết các tình huống xảy ra trong đời sống của mỗi cá nhân.

     - Cũng có quan niệm cho rằng: “Năng lực là tổ hợp các thuộc tính độc đáo của cá nhân, phản ánh bởi cách làm việc có hiệu quả và có trách nhiệm, phù hợp với yêu cầu của một hoạt động nhất định, trong những tình huống khác nhau, trên cơ sở có kiến thức, kĩ năng, thái độ nhằm đảm bảo cho các hoạt động đó có kết quả tối ưu” [3;tr. 215].

      Có thể hiểu một cách khái quát: Năng lực là khả năng thực hiện có hiệu quả và có trách nhiệm các hành động, giải quyết các nhiệm vụ vấn đề thuộc các lĩnh vực nghề nghiệp xã hội hay cá nhân trong từng tình huống khác nhau, trên cơ sở hiểu biết kỹ năng, kĩ xảo và kinh nghiệm cũng như sự sẵn sàng hành động.

     2.2.2. Đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực dưới góc nhìn Tâm lý học- Giáo dục học.

     Dạy học theo định hướng phát triển năng lực dưới góc nhìn Tâm lý học - Giáo dục học là quá trình dạy học nhằm giúp học sinh hình thành, phát triển khả năng huy động tổng hợp mọi nguồn lực (bao gồm những tố chất sẵn có, kinh nghiệm, kiến thức, kỹ năng, hứng thú, niềm tin, ý chí...) để thực hiện thành công hoạt động trong những bối cảnh nhất định.

     Phát triển năng lực học sinh dưới góc nhìn Tâm lý học - Giáo dục học là phát triển năng lực nhận thức và kỹ năng vận dụng kiến thức vào việc giải quyết một cách có hiệu quả những vấn đề do cuộc sống đặt ra. Hay nói cách khác, phát triển năng lực học sinh là tạo cho học sinh có khả năng đáp ứng được những yêu cầu của nhận thức, của việc phát triển tri thức và vận dụng tri thức vào các hoạt động đạt kết quả cao. Năng lực học sinh do nhiều thuộc tính cấu thành nên, đó là: thuộc tính mang tính chất bẩm sinh - di truyền như tư chất, thiên hướng, năng khiếu hay tài năng; thuộc tính tâm lý như tình cảm, lý trí, tính cách; thuộc tính xã hội như trình độ học vấn, sự sáng tạo, linh hoạt trong các hoạt động và môi trường giáo dục. 

     Năng lực học sinh không phải là một cái gì chung chung mà là bao gồm những thuộc tính, những mặt rất cụ thể. Do đó, để phát triển năng lực của học sinh thì trước hết phải hướng vào phát triển những thuộc tính, những mặt cụ thể nói trên. Người giáo viên phải có kiến thức về Tâm lý học - Giáo dục học vững vàng. Đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp nói chung nhằm phát triển năng lực học sinh không thể không hướng đến những thuộc tính, những mặt ấy. Chính vì thế, nên một trong những nhiệm vụ và giải pháp của đổi mới giáo dục hiện nay là: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc. Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực” [4, tr.128-129]. 

     Khi nói đến năng lực học sinh thường gắn liền với phẩm chất của nó. Phẩm chất của học sinh được thể hiện qua các mặt đó là phẩm chất đạo đức, phẩm chất chính trị, lối sống, ý thức, trách nhiệm, niềm tin lý tưởng. Những mặt đó phải thông qua giáo dục mới hình thành và phát triển. Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập như hiện nay, con người - nguồn lực đóng vai trò quyết định rất cần có cả năng lực và phẩm chất. Năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia đang chuyển mạnh từ nguồn tài nguyên, vốn sang nguồn lực con người đặc biệt là nguồn lực chất lượng cao. Phát triển nguồn nhân lực không thể chỉ chú ý đến năng lực mà không chú ý đến phẩm chất. 

      Thông thường người ta chia năng lực thành năng lực chung và năng lực chuyên môn (năng lực chuyên biệt). Năng lực chung là những năng lực cơ bản, cần thiết hoặc cốt lõi, làm nền tảng cho mọi hoạt động của con người trong cuộc sống và lao động như: Năng lực nhận thức, năng lực trí tuệ, năng lực về ngôn ngữ và tính toán, năng lực hành vi, năng lực giao tiếp, năng lực vận động,... Năng lực chuyên biệt được hình thành trên cơ sở tiếp nhận tri thức của các môn khoa học như: Toán học, Vật Lý, Hóa học, Sinh học, Văn học, Lịch sử, Địa lí, Kinh tế, Chính trị, Luật học. Hay nói cách khác, năng lực chuyên môn là năng lực đặc trưng ở những lĩnh vực nhất định. Vì vậy, đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực là phải hướng đến phát triển năng lực học sinh tương xứng với lĩnh vực đó. Phát triển năng lực cho học sinh phổ thông không chỉ phát triển năng lực chuyên môn mà còn phải phát triển năng lực chung. Nếu dựa vào mức độ phát triển cá nhân thì có “Năng lực học tập” “Năng lực nghiên cứu phát triển, mở rộng ý tưởng”, “Năng lực sáng tạo”. Còn theo Giáo sư tâm lý học người Mỹ Howard Gardner, con người có 7 năng lực, tương đương với 7 loại trí tuệ khác nhau: 

     1) Năng lực trí tuệ ngôn ngữ (Năng lực diễn tả ngôn ngữ dễ dàng bằng nói hay viết); 

     2) Năng lực trí tuệ logic - toán (Năng lực tính toán phức tạp và lý luận sâu sắc); 

     3) Năng lực trí tuệ không gian (khả năng tiếp nhận thế giới bằng thị giác - không gian, cho phép con người tưởng tượng ra sự vật dưới các gốc độ nhìn khác nhau); 

     4) Năng lực trí tuệ hình thể - động năng (các yếu tố cơ bản giúp cơ thể vận động kheo léo);

     5) Năng lực trí tuệ âm nhạc (Năng lực tạo ra sự thưởng thức nhịp điệu, cung bậc, âm sắc, biết thưởng thức các dạng biểu cảm âm nhạc); 

     6) Năng lực trí tuệ giao tiếp (thể hiện ở khả năng hướng các hoạt động trí tuệ giao tiếp ra bên ngoài, trong mối quan hệ với người khác; 

     7) Năng lực trí tuệ nội tâm (năng lực đánh giá cảm xúc cá nhân, sự phân biệt giữa cảm xúc và hành vi, hiểu những điểm mạnh và điểm yếu của bản thân),...

     Trong các năng lực nói trên thì trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực dưới góc nhìn Tâm lý và Giáo dục học, người giáo viên cần quan tâm đến năng lực tự học các môn học.

     Tự học là nhân tố nội lực quyết định chất lượng học tập còn hoạt động dạy là ngoại lực có tác dụng định hướng, kích thích, điều khiển và chỉ đạo trực tiếp hoặc gián tiếp quá trình học. Quá trình dạy học chỉ có kết quả khi người học tự nổ lực, tự học để nắm vững tri thức mà nhân loại đã tích lũy được. Trong học tập bao giờ cũng có tự học, nghĩa là người học tự mình lao động trí óc để chiếm lĩnh kiến thức. Năng lực tự học dưới góc nhìn Tâm lý học –  Giáo dục học có nhiều mức độ:

     Ở mức độ thấp hơn, nhưng có ý nghĩa rất quan trọng trong giai đoạn đầu hình thành năng lực tự học đó là tự học có hướng dẫn, có sự hỗ trợ của giáo viên. Mỗi lời động viên, khen ngợi và phê phán với chứng cứ thuyết phục và nhân văn của giáo viên có tác dụng to lớn, gợi hứng thú học tập của học sinh hơn bất cứ phương tiện học tập hiện đại nào. 

     Ở mức độ cao, tự học là quá trình tự thân người học hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện khả năng thực hành không có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên và sự quản lý của cơ sở giáo dục. Hướng dẫn người học biết cách lựa chọn tài liệu tìm ra những điểm chính, điểm quan trọng trong các tài liệu đã đọc, đã nghe, biết cách ghi chép những điều cần thiết, biết viết tóm tắt, làm đề cương, biết cách lựa chọn từ điển và sách tham khảo, biết cách làm việc trong thư viện,.... Như vậy, đổi mới phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá theo định hướng phát triển năng lực dưới góc nhìn Tâm lý học và Giáo dục học sẽ có tác dụng tích cực đến việc phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh. Để khắc phục những bất cập và hạn chế trong thời gian vừa qua, nhằm phát huy vai trò, vị trí của các môn học trong nhà trường phổ thông trong việc phát triển năng lực người học đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay, chúng ta cần triển khai các giải pháp sau: 

     Thứ nhất, đổi mới nhận thức, mà trước hết là nhận thức của đội ngũ giáo viên và các tổ chức chính trị - xã hội trong nhà trường về ý nghĩa của việc đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực dưới góc nhìn Tâm lý học và Giáo dục học của người dạy. 

     Thứ hai, đổi mới chương trình phổ thông theo hướng hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi và phù hợp với giai đoạn định hướng nghề nghiệp. Chúng ta biết rằng chương trình giáo dục phổ thông được chia thành hai giai đoạn: thứ nhất, giai đoạn giáo dục cơ bản bao gồm cấp tiểu học và cấp trung học cơ sở; thứ hai, giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp, đó chính là cấp trung học phổ thông. 

     Thứ ba, trong giảng dạy phải khuyến khích năng lực tự học của học sinh. ''Tự học thì mới thực sự là học: học do nhu cầu và động lực bên trong; học một cách tự giác, chứ không phải bắt buộc và miễn cưỡng. Tự học thì mới có thể học ở mọi nơi và mọi lúc, tự học thì mới duy trì được tính liên tục của hoạt động học tập trong suốt cuộc đời của mỗi con người. Tự học thì mới tạo được sự thích ứng linh hoạt của mỗi người trong những hoàn cảnh cụ thể khác nhau, thích ứng với tốc độ phát triển và nhân rộng tri thức vô cùng nhanh chóng. Tự học (chuyển quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục) thì mới không ngừng nâng cao năng lực và làm giàu tri thức” [5, tr.80].

     Thứ tư, đổi mới thi, kiểm tra, đánh giá chất lượng giáo dục theo hướng đánh giá đúng năng lực và phẩm chất của người học. Khuyến khích tính tích cực, chủ động, sáng tạo và thể hiện tình cảm, đạo đức, trách nhiệm của mỗi học sinh trước yêu cầu của xã hội. Nội dung của đề thi phải hướng về hiểu biết thực tế và vận dụng kiến thức tổng hợp vào giải quyết những vấn đề do cuộc sống đặt ra. 

     Thứ năm, để nâng cao chất lượng và vị thế của đội ngũ giáo viên giảng dạy ở trường phổ thông cần phải rà soát, chuẩn hoá và nâng chuẩn đội ngũ nhằm đảm bảo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và đảm bảo về chất lượng; các trường đại học có điều kiện cần mở đào tạo cao học chuyên ngành, bản thân đội ngũ giáo viên phải khắc phục tâm lý tự ty, nỗ lực cố gắng phấn đấu vươn lên trong học tập và giảng dạy, học hỏi tự trang bị kiến thức Tâm lý học - Giáo dục học. 

     Thứ sáu, Tăng cường cơ sở vật chất phục vụ đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực.

     Các nhà trường phổ thông cần tập trung đầu tư cho thư viện và phát triển các kho sách và tài liệu trong thư viện mà học sinh bắt buộc phải đọc và nghiên cứu. Thư viện gồm:

     - Tài liệu dạng “truyền thống” in trên giấy như sách giáo khoa, giáo trình, bài giảng của giáo viên, sách, báo, tạp chí,...;

      - Tài liệu dạng “hiện đại”, tài liệu nghe – nhìn, tài liệu điện tử (lưu trữ trên đĩa CD-ROM, bài giảng điện tử, cơ sở dữ liệu online,..;

     - Ngoài việc mua sắm, cần có chính sách động viên và tạo điều kiện phát huy tính chủ động, sáng tạo của giáo viên tự biên soạn tài liệu, tự làm đồ dùng dạy học, học tập của bản thân.

     3. Kết luận

     Đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực dưới góc nhìn Tâm lý học và Giáo dục phù hợp với yêu cầu và xu thế phát triển của xã hội trong giai đoạn hiện nay. Việc chuyển từ dạy học theo định hướng nội dung sang dạy học theo định hướng phát triển năng lực sẽ góp phần đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục. Trong khi chờ đợi chương trình, sách giáo khoa mới phù hợp hơn với cách tiếp cận dạy học theo định hướng phát triển năng lực, mỗi người giáo viên với lương tâm và trách nhiệm của mình cần phải không ngừng tìm tòi, học hỏi, đổi mới, sáng tạo, bồi dưỡng kiến thức Tâm lý học - Giáo dục học để mang lại cho các em học sinh thân yêu những bài dạy bổ ích, tràn đầy những giá trị nhân văn, giúp học sinh biến những tri thức thành tình cảm, niềm tin, lẽ sống lành mạnh và thôi thúc các em có lý tưởng, hoài bảo để chuẩn bị làm hành trang bước vào cuộc sống, cần chú trọng hình thành và phát triển các dạng năng lực chung và năng lực chuyên biệt cho học sinh nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội hiện đại./.

        Th.S Trần Ngọc Có 

                                                 Hội viên Chi hội Khoa học Tâm lý – Giáo dục 

                         Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa

Tài liệu tham khảo:

[1]. Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 8 (Khóa XI).

[2]. Weinert,F.E. Vergleichende Leistungsmessung in Schulen-eine umstrittene Selbstverstandlichkeit (In:Weinert,FE(Hg.):Leistungsmessung in Schulen). Weinheim, 2001.

[3]. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Khóa XI, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2013.

[4]. Hồ Ngọc Đại (2010), Giáo dục tiểu học đầu thế kỷ XXI, Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam.

[5]. Nguyễn Văn Hòa, Nguyễn Minh Hưng (2016), “Giáo dục từ xa với việc đào tạo nguồn nhân lực”, Tạp chí Khoa học xã hội Việt Nam, Tạp chí Viện Hàn Lâm Khoa học xã hội Việt Nam, số 8 (105).

 

   

   

   

   

   

   

   

 Lượt truy cập
   
 Tìm kiếm

   
 Liên kết web

   
 Trao đổi trực tuyến
Quản trị website
Kế toán
Tư vấn viên
   
 Thông tin quảng cáo
Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Khánh Hòa
Công Báo Khánh Hòa
Văn phòng HĐND và UBND thành phố Nha Trang
Hội Nghề Cá Khánh Hòa
Hội Khoa Học Kỹ Thuật Cầu Đường Khánh Hòa
   

LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT TỈNH KHÁNH HÒA
Địa chỉ: 80 Hoàng Văn Thụ, Nha Trang, Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3811158 Fax: 058.3811158
Email: lienhiephoi.khktkh@gmail.com
Người chịu trách nhiệm nội dung: Lê Trung Hưng