Đặc điểm quá trình hình thành và phát triển dân cư vùng đất Cam Ranh

     Ngay từ thời tiền - sơ sử, vùng đất Cam Ranh đã có con người sinh sống, các di chỉ Xóm Cồn (phường Cam Linh), di chỉ Bình Hưng và Bình Ba (xã Cam Bình), Hòa Diêm (xã Cam Thịnh Đông) đã chứng minh điều đó. Khi khai quật di chỉ Xóm Cồn, di chỉ Bình Hưng và Bình Ba, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy rất nhiều đồ gốm, các loại xương thú, vỏ các loại nhuyễn thể biển... Các di chỉ này đã góp phần xác lập một văn hóa khảo cổ mới tồn tại trước văn hóa Sa Huỳnh, đó là văn hóa Xóm Cồn (khoảng thiên niên kỷ II trước Công nguyên).

     Đặc biệt, ở di chỉ Hòa Diêm, đã tìm thấy khu mộ chum cùng nhiều đồ đá, đồ đồng, đồ sắt, thủy tinh, mã não…, có niên đại từ 2000 đến 2500 năm cách ngày nay. Có thể hiểu: các đảo, đầm, vũng vịnh liền kề núi là nơi che chắn gió bão và có nguồn thức ăn dồi dào mà cư dân cổ đã biết khai thác. Họ đã sống thành làng và ổn định trong một thời gian dài. 

     Hiện nay đang có nhiều cách lý giải về nguồn gốc và ý nghĩa của địa danh Cam Ranh. Theo Từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, Cam Ranh tiếng Chăm, tiếng J'rai hoặc tiếng Êđê là: Kăm M'ran; Kăm có nghĩa là: Dồn một chỗ, một đống, tập trung lại, hay gọi là bến; M'ran có nghĩa là: tàu, thuyền, đò; nghĩa chung là nơi Tàu, thuyền tập trung hay gọi là bến Tàu, thuyền, sau này phiên âm sang tiếng Việt từ Kăm M'ran đọc thành Cam Ranh[1].

     Năm 1653, khi Chúa Nguyễn cho lập dinh Thái Khang (Khánh Hòa ngày nay), được nhà Nguyễn khuyến khích sản xuất, trên vùng đất Khánh Hòa đã diễn ra quá trình di dân lập làng của người Kinh (Việt) từ phía Bắc vào. Cam Ranh lúc bấy giờ là phần đất thuộc huyện Vĩnh Xương (phủ Diên Ninh)[2] bao gồm Cam Lâm, Cam Ranh và Khánh Sơn ngày nay, có điều kiện tự nhiên đa dạng (biển, đảo, đầm, vịnh và rừng núi). Biển, đảo, đầm, vịnh có phần thuận lợi cho cư dân trong việc mưu sinh bằng nghề biển. Tuy vậy, việc tạo dựng cuộc sống ban đầu để “an cư lạc nghiệp” hết sức khó khăn. Trên các đảo (Bình Hưng, Bình Ba) còn rất hoang vu, vắng vẻ. Rừng núi bạt ngàn chạy sát biển, lại là rừng thiêng nước độc, nhiều thú dữ, nhất là vùng Hòa Tân, Đồng Lác[3], việc đi lại trên đất liền có nhiều cách trở. Vùng đồng bằng, đất phẳng ít, sông suối ít, thiếu nước. Cư dân bản địa Chăm, Raglai số lượng không nhiều, người Raglai sống phân tán ở vùng núi. 

     Từ giữa thế kỷ 17, việc di dân từ các tỉnh Thừa Thiên, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú yên... vào Khánh Hòa được đẩy mạnh, hoặc do người nông dân tự di cư để tránh áp bức bóc lột tại quê quán, hoặc theo chủ trương, chính sách “khẩn hoang lập làng” của các Chúa Nguyễn. Trước hết họ tới các vùng đồng bằng, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, nghề trồng lúa nước. 

     Tuy nhiên, do có những mặt khắc nghiệt và hạn chế của điều kiện tự nhiên cho sản xuất nông nghiệp nên công cuộc di cư lập làng của người Kinh ở Cam Ranh buổi đầu không ồ ạt, thậm chí có tính chất nhỏ lẻ khác với việc lập làng trên các vùng đất trong tỉnh (như Vạn Ninh, Ninh Hòa...). Đến cuối thế kỷ XVII, mới chỉ có vài xóm chuyên đánh bắt hải sản hoặc trao đổi hàng hóa với người Raglai ở vùng Thủy Triều, Xóm Cồn, Trà Long [4]. 

Ảnh: Đình Trà Long (Phường Ba Ngòi, TP Cam Ranh)

     Lần theo dấu tích đình, chùa, miếu mạo... thì đình Bình Ba, lăng Nam Hải Bình Ba của bộ phận cư dân chuyên làm nghề biển (xã Cam Bình hiện nay) được xây dựng khoảng cuối thế kỷ XVIII [5]. Lăng Ông – đền Bà trên bán đảo Cam Ranh (nay chuyển về xã Cam Phúc Nam), đình Khánh Cam, đình Trà Long (ở Ba Ngòi) và đình Mỹ Thanh (Cam Thịnh) được xây dựng vào thế kỷ XIX[6]. Đình, lăng... được xây dựng vừa là phong tục tập quán, nếp sống của vùng quê cũ vừa là tín hiệu của cư dân đã trải qua thời kỳ vất vả và có cuộc sống ổn định. Đình làng là nơi sinh hoạt văn hóa, nơi thờ cúng Thành hoàng, các bậc tiền hiền, hậu hiền có công khai khẩn đất đai, lập làng, thể hiện truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân làng. Có thể hiểu, từ thế kỷ XVIII, người Kinh đã có mặt trên nhiều vùng đất ở Cam Ranh, cả đảo, đất liền và ven biển. 

     Bước sang thế kỷ XIX, tuy vẫn còn nhiều vùng đất chưa khai thác nhưng có thể hình dung được bức tranh kinh tế - xã hội Cam Ranh khá rõ. Nơi có điều kiện trồng trọt và đánh bắt hải sản, cư dân đông đúc hơn như Hòa Tân, Thủy Triều, Ba Ngòi, Đá Bạc và các đảo Bình Ba, Bình Hưng. Cư dân có bộ phận chuyên nghề đánh bắt, hay vừa trồng trọt, chăn nuôi vừa đánh bắt hải sản ven bờ và chế biến hải sản, làm muối. Vùng Hòa Tân, Thủy Triều và các đảo người Kinh tập trung nhiều hơn. Từ Ba Ngòi - Đá Bạc trở vào và chếch lên hướng Tây, chủ yếu là vùng cư dân Raglai sinh sống. Cuộc sống mưu sinh của họ dựa vào nương rẫy, khai thác sản vật rừng núi, trong đó, có việc săn bắt các loài chim, thú thông qua việc dọn ranh đặt bẫy hay khai thác mật ong, trầm hương, mây... Cư dân người Hoa (di cư đến Khánh Hòa cuối thế kỷ XVII) và người Chăm ở Cam Ranh  không nhiều, họ sống xen kẽ với người Kinh. Năm 1808, đời Gia Long thứ bảy có một cuộc cải cách hành chính toàn quốc, các dinh đổi thành trấn, dinh Bình Hòa đổi thành trấn Bình Hòa (năm 1832 là tỉnh Khánh Hòa), nhà nước còn cho đo lại ruộng đất. Nhờ đó, ta biết được, huyện Vĩnh Xương có 3 tổng, 1 thuộc; tổng Hạ có 9 thôn xã. Trong sách Hoàng Việt nhất thống dư địa chí (Lê Quang Định, 1806) ghi về trạm Hòa Do: “...cầu Ba Ngòi, thuộc thôn Tân Lập, tổng Hạ, huyện Vĩnh Xương” (“…chí Ba Ngòi kiều, thuộc Vĩnh Xương huyện, Hạ tổng, Tân Lập thôn...”)[7]. Như vậy, ta có thể xác định vùng Ba Ngòi có thôn Tân Lập, thuộc tổng Hạ, đã nằm trong “biên chế” đơn vị hành chính (thôn, tổng, huyện) nhà nước quản lý.

     Đầu thế kỷ XX, dưới thời Duy Tân (1907-1916), Cam Ranh khỏi Vĩnh Xương lập thành tổng, năm 1910, tổng Cam Ranh có 7 làng với 321 đinh (con trai từ 18 - 50 tuổi). Từ đây, việc khai khẩn đất đai và lập làng có tốc độ nhanh hơn, Cam Ranh có những chuyển biến rõ rệt. Các dải rừng chạy sát biển trở nên bằng phẳng, các vùng đất Cam Thịnh, Ba Ngòi, Đồng Lác, Hòa Tân (nay thuộc Cam Lâm) đã được nối liền thành khu vực rộng lớn. Theo đó, nhà cửa, đường sá, làng xã cũng bắt đầu phát triển hơn. Các thôn, xóm mới mọc lên như Trại Cá, Hiệp Thanh, Trà Long, Khánh Cam, Cam Linh, Mỹ Hiệp, Hòa Bình, Bãi Chòi[8]. 

     Vào cuối thập niên 30 của thế kỷ 20, dân cư Cam Ranh vẫn còn rất thưa thớt, chỉ khoảng 11.000 người, tập trung chủ yếu ở Hoà Tân, Ba Ngòi, Đá Bạc, Thủy Triều và Mỹ Ca. Vùng giữa, chạy dài gần 30km, hầu như còn là rừng nguyên sinh từ chân núi đến sát biển. Cơ cấu dân cư gồm 5000 người Kinh và 6000 người Raglai (độ 2/3 ở vùng giữa và vùng cao). 

     Dân số ngày càng tăng, chủ yếu là dân di cư từ các tỉnh miền Trung và miền Bắc vào lập nghiệp, nhất là giai đoạn từ năm 1954 đến 1970. Để tạo ra số lượng và cơ cấu dân cư thích hợp, vừa đủ “tin cậy về chính trị” vừa đủ đáp ứng nhu cầu rất lớn về nhân công xây dựng, dịch vụ, địch đã có những kế hoạch di dân ồ ạt tới Cam Ranh. Năm 1954, dân số Cam Ranh có khoảng 7.000 người Kinh và 3.000 người Raglai. Thời kỳ 1956 – 1957, địch chuyển một số đồng bào miền Bắc di cư năm 1954 tới cắm vào các vùng xung yếu. Năm 1956, 3.000 người Nùng Móng Cái từ Sông Mao ra Đồng Lác, lập xã Cam Sơn. Năm 1957, linh mục Nguyễn Đức Dũng nắm 1.300 đồng bào giáo dân Quảng Bình, Quảng Trị từ Đà Nẵng vào định cư, lập xã Cam Phú. Cùng năm 1956, lập các thôn Xuân Ninh 1 và 4 với khoảng 3.000 đồng bào Quảng Ninh[9]. Cho đến năm 1960, dân số ở Cam Ranh có khoảng 27.000 người. 

     Từ sau khi thành lập thị xã (10/1965), chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã đưa dân tới Cam Ranh với quy mô lớn, chủ yếu là gia đình tề, ngụy và đồng bào tôn giáo, phần lớn là Thiên Chúa giáo, di cư theo từng thôn, từng giáo xứ, các linh mục phụ trách giáo xứ đi theo, được chính quyền cấp đất thổ cư và sản xuất. 

     Từ năm 1965 đến năm 1968, khi Mỹ ồ ạt đưa quân viễn chinh và quân chư hầu vào Cam Ranh, dân cư ở các vùng khác về đây sinh sống đưa dân số tăng lên khoảng 98.000 người (năm 1969) và đến tháng 2 năm 1975, dân số ở Cam Ranh có khoảng 128.000 người)[10]. 

     Sau ngày giải phóng, dân số Cam Ranh tiếp tục phát triển. Từ cuối năm 1975 đến 1985, nhân dân các tỉnh, thành trong cả nước đến Cam Ranh sinh sống, nhất là các tỉnh miền Bắc, nên dân số của Cam Ranh tăng đáng kể. Từ năm 1986, sau khi có đường lối đổi của Đảng dân số Cam Ranh tăng nhanh, chủ yếu là dân cư các nơi khác đến Cam Ranh để đầu tư sản xuất, kinh doanh. Năm 1999, dân số Cam Ranh có 194.329 người. Từ năm 2000 đến 2010, dân số Cam Ranh cơ bản ổn định, năm 2010, có 122.261 người (Số dân cư giảm do chia tách một số xã của thị xã Cam Ranh thành lập huyện Cam Lâm năm 2007). Hiện nay, dân số Cam Ranh là 124.680 người (đến tháng 11/2016)[11].  

     Đặc điểm của cư dân Cam Ranh là sự đa dạng, đan xen bởi nhiều tộc người như, trong đó người kinh chiếm đa số. Có khoảng trên 8.000 người dân tộc Raglai, tập trung ở hai xã Cam Thịnh Tây, Cam Phước Đông; gần 300 người Hoa, tập trung ở phường Cam Linh, Ba Ngòi, Cam Phúc Bắc, còn lại một số ít người Nùng, Tày, Thái.  … với những nét văn hóa đặc thù khác nhau. 

     Trải qua các thời kỳ lịch sử, các thế hệ cư dân Cam Ranh cho dù hoàn cảnh, điều kiện khác nhau, phong tục tập quán, lối sống khác nhau nhưng từ đấu tranh sinh tồn và phát triển, trong đấu tranh chống áp bức, bóc lột và chống giặc ngoại xâm đã hun đúc truyền thống yêu nước, đoàn kết, cần cù, sáng tạo; hình thành nền văn hóa vừa đa dạng, vừa thống nhất, vừa mang sắc thái đặc thù của địa phương.

     Thực tế lịch sử dân tộc ta chứng minh, nền văn hóa Việt Nam, từ con người Việt Nam với những đặc trưng cao quý đã tạo nên nguồn sức mạnh nội sinh chiến thắng thiên nhiên, chiến thắng quân xâm lược, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc. Để xây dựng và phát triển thành phố Cam Ranh trong thời kỳ mới – thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vấn đề xây dựng văn hóa, con người mới nhằm phát huy sức mạnh nội sinh của địa phương lại càng trở nên quan trọng. Đó là con người biết trân trọng, giữ gìn thành quả cha ông để lại và phát huy nó một cách sáng tạo, bền vững trong hội nhập quốc tế. Con người mới vì vậy được coi như là một trong những yếu tố quyết định cho sự phát triển./.

Lê Viết Quân

Hội Sử học Khánh Hòa

Chú thích:

[1].Từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia được cập nhật ngày 19/9/2016. 

[2]. Đại Nam nhất thống chí – tập 11, tỉnh Khánh Hòa.

[3,8,9,10]. Lịch sử Đảng bộ huyện Cam Ranh, xuất bản 1994.

[4]. Lịch sử Đảng bộ huyện Khánh Sơn, tr.18, xuất bản 1995.

[5]. Đẹp nguyên sơ Bình Ba - xứ đảo Tôm hùm, Báo Dân Việt, ngày 01/08/2013.

[6]. Hồ sơ quản lý di tích, Trung tâm bảo tồn di tích Khánh Hòa.

[7]. Nguyễn Văn Nghệ, “Mả Ông Tướng Đi tìm danh tính của ông tướng”, Tạp chí Xưa & Nay, số 408, tháng 7/2012.

[11]. Cổng thông tin điện tử thành phố Cam Ranh.

 

   

   

   

   

   

   

   

 Lượt truy cập
   
 Tìm kiếm

   
 Liên kết web

   
 Trao đổi trực tuyến
Quản trị website
Kế toán
Tư vấn viên
   
 Thông tin quảng cáo
Hội Tin Học Khánh Hòa
Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Khánh Hòa
Công Báo Khánh Hòa
Văn phòng HĐND và UBND thành phố Nha Trang
Hội Nghề Cá Khánh Hòa
   

LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT TỈNH KHÁNH HÒA
Địa chỉ: 80 Hoàng Văn Thụ, Nha Trang, Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3811158 Fax: 058.3811158
Email: lienhiephoi.khktkh@gmail.com
Người chịu trách nhiệm nội dung: Lê Trung Hưng