Kỹ thuật ương và nuôi thương phẩm cá chình hoa

     Nghề nuôi cá Chình ở nước ta mới bắt đầu ở các tỉnh Bình Định và Phú Yên từ năm 2000, sau đó nhanh chóng lan ra các tỉnh phía Nam và hiện nay đã phát triển ra nhiều tỉnh trong cả nước. Tuy nhiên công nghệ nuôi còn lạc hậu, sử dụng thức ăn là cá tạp, môi trường và dịch bệnh đều khó kiểm soát, quy mô sản xuất nhỏ lẻ nên năng suất và hiệu quả thấp. Vì vậy thực hiện đề án “Hoàn thiện công nghệ ương giống và nuôi thương phẩm cá chình hoa (Anguilla marmorata) theo hình thức công nghiệp” với các nội dung sau.

     I. HỆ THỐNG BỂ ƯƠNG CÁ CHÌNH

     1. Thiết kế hệ thống ương cá chình theo phương thức công nghiệp

     Nhà xưởng diện tích 28 x 10 m = 280 m2, cho ương cá chình bột trắng lên 50 g/con; 40 x 15 m = 600 m2 cho nuôi thương phẩm 50 g/con lên 2.000 g/con được xây dựng đảm bảo ánh sáng, thoáng và cách nhiệt với hệ thống thiết bị cấp nước, cấp khí, bổ sung oxy nguyên chất là phù hợp.

     Chú thích: 1: bể chứa nước nguồn; 2: bể lọc sinh học; 3: bể lọc cơ học; 4a-4f: bể ương giống trong hệ thống tuần hoàn; 5a-5f: bể ương giống trong hệ thống hở; 6: bể chứa thải; 7: thiết bị khử trùng bằng ozone.

     a) Giếng nước nguồn: sử dụng nước giếng đào công suất 200-300 m3/ngày.

     b) Bể chứa nước nguồn: gồm 3 bể có thể tích 3m x 6m x 1,5m = 24m3/bể.

     c) Bể lọc cơ học (sử dụng cho hệ thống ương tuần hoàn): Bể lắng, lọc cơ học bằng composite hình tròn, dung tích 3,4m3, gồm hai phần bể chứa các vật liệu lọc và bể chứa nước sau lọc.

     d) Bể lọc sinh học (sử dụng cho hệ thống ương tuần hoàn): gồm 3 bể composite đường kính 2,2m, cao 0,9m chia làm nhiều ngăn. 

     e) Bể ương giống: gồm 12 bể composite hình tròn mỗi bể có thể tích 5m3. Trong đó 6 bể sử dụng nuôi trong hệ thống hở và 6 bể nuôi theo hệ thồng tuần hoàn. Giữa bể ương có bộ phận tách các chất thải rắn mà không qua bể lọc cơ học. Ống xả thải ф = 90 mm dùng để thải chất thải rắn và thoát nước.

     f) Hệ thống cung cấp khí: chỉ sử dụng cho hệ thống nuôi hở.

     g) Hệ thống cung cấp khí oxy: Sử dụng cho hệ thống nuôi tuần hoàn.

     - Máy tách oxy từ không khí nhãn hiệu OXYMAT kiểu O100VER.1 do Đan Mạch sản xuất với công suất 8 m3/giờ (Hình 4-10, bên phải). Giai đoạn cuối của dự án nguồn oxy được thay bằng oxy lỏng do công ty “Gas Việt Nhật” cung cấp, bình chứa có dung tích 10 m3. Thiết bị trộn oxy nguyên chất vào nước là bình tam giác, sử dụng máy bơm công suất 0,3-0,5kw.

     h) Máy phát điện dự phòng: công suất 30 kVA, cùng với thiết bị báo động đảm bảo an toàn trong điều kiện mất điện đột xuất. 

     i) Thiết bị khử trùng: máy tạo ozone công suất 16 g/giờ.

     j) Hệ thống thoát nước: gồm hố ga, cống siphon đáy, mương thoát nước, ao chứa và xử lý nước thải.

     k) Hố ga thoát nước: (ɸ = 40- 50 cm) lắp một bên thành bể.

     l) Bố trí trí mặt bằng: bể chứa → bể nuôi → bể lọc cơ học → khử trùng bằng 

     Thiết kế hệ thống xử lý nước trong hệ thống ương giống cá chình

     a) Xử lý nước nguồn

     Nước nguồn cho ương giống cá chình là nước giếng đào, có đường kính 3m, sâu 5m, có khả năng cung cấp 200-300 m3/ngày, đủ đáp ứng nhu cầu ương giống. Để đảm bảo cung cấp liên tục nước giếng sau khi bơm lên được dự trữ vào 2 bể chứa (thể tích 100 m3)

     b) Diệt vi sinh vật gây bệnh

     Ozone tạo ra đi qua thiết bị trộn để diệt khuẩn trong nước trước khi vào thiết bị lọc sinh học. Thời gian nước đi từ máy bơm đến bể lọc sinh học (trong ống nhựa dài 5 - 20 m) đủ để ozone phát huy hết tác dụng khử trùng.  

     c) Thiết bị (bể) lọc sinh học

     Nước tuần hoàn sau khi ra khỏi bể ương đi qua vào bể lọc cơ học để loại bỏ những hạt Φ>100µ rồi vào thiết bị trộn ozone để diệt khuẩn. Nước sau khi đi qua hệ thống lọc sinh học vào bể ương theo phương pháp tự chảy nhờ chênh lệch cao trình mực nước bể lọc sinh học và bể ương là 1,5 m. 

     d) Tính toán nhu cầu oxy nguyên chất

     Nhu cầu oxy cho cá: Theo Min và Wang (1998), cá chình hoa cỡ 133g/con ở nhiệt độ 28 - 290C tiêu thụ 1,764g oxy/1kg cá/ngày. Tổng hợp nhu cầu oxy cần thiết cung cấp cho hệ thống ương cá chình giống cấp I và cấp II: 5,4 kg + 39,15 kg = 44,55 kg/ngày. Máy sản xuất oxy công suất 8 m3/giờ (11,44 kg oxy) thì 4 giờ chạy máy đủ để cấp oxy cho hệ thống trong 1 ngày.

     e) Tính toán lượng nước cần thiết cho hệ thống ương

     Do nước sử dụng trong hệ thống tuần hoàn là khép kín nên có thể dựa trên lượng nước chảy qua một bể để suy ra cả hệ thống 26 lít/phút.

     f) Tính công suất máy bơm cần thiết

     Máy bơm sẽ được phân phối lần lượt từ nhỏ đến lớn cho 3 hệ thống nuôi mật độ khác nhau như sau: 0,5 HP; 1 HP và 1,5 HP.

     2. Thiết kế hệ thống xử lý nước thải trong ương và nuôi cá chình

     a) Cấu tạo hệ thống xử lý nước thải trước khi thải ra môi trường

     - Mương dẫn nước thải: có kích thước 200m x 0,5m x 0,5m, độ dốc 5%.

     - Lưới chắn rác: thước mắt lưới 2a = 2cm, được đặt trước bể lọc cơ học 2m.

     - Bể lọc cơ học: công suất lọc tối đa 75m3/giờ.Vật liệu lọc làm bằng lưới nilon hoặc xơ dừa.

     - Ao canh tác thủy canh: gồm 3 ao đất, diện tích mỗi ao 350 m2, độ sâu 1,5m, đáy ao có độ nghiêng về phía cuối 5%. Trong ao nuôi một số cá loài tạp sử dụng mùn bã hữu cơ như: cá chép, rô phi,... và bèo Nhật Bản, bèo tấm.

     b) Tính toán sức tải thiết kế cho hệ thống tuần hoàn

     Đối với chất thải TAN, CO2 phát sinh trong quá trình ương đã được xử lý thông qua hệ thống xử lý nước trong nhà. Khi mật độ ương giống và nuôi thương phẩm cao thì lượng chất thải rắn TSS dự kiến cần xử lý khoảng 865,2 kg/ngày. Lượng chất thải CO2 tương đối cao tuy nhiên quá trình di chuyển của nguồn nước và khuyếch tán vào môi trường sẽ làm giảm đáng kể lượng chất thải này. Như vậy cần một lưu lượng nước để đưa chất thải trên qua các thiết bị tối thiểu khoảng 500 m3/ngày.

     3. Thiết kế hệ thống công trình nuôi thương phẩm cá chình

     Hình 2-3: Mặt bằng công trình nuôi thương phẩm cá chình công nghiệp

     a) Bể chứa lắng nước nguồn (1): gồm 2 bể hình tròn xây bằng gạch, láng xi măng, cao 1,8m, đường kính 10m và 20m.

     b) Hệ thống bể lọc cơ học (2): gồm 6 ngăn chứa san hô có kích thước 4m x 2m x 1,8m và 2 bể lọc cát có kích thước 4m x 2,5m x 1,8m.

     c) Bể chứa nước nguồn (3): có thể tích 4m x 8m 1,5m = 48m3.

     d) Bể lắng tuần hoàn (4): hình tròn, có đường kính 3,5m, thể tích 10m3. 

     e) Thiết bị khử trùng (5): bằng ozone được đặt ngay sau bể lắng chất thải rắn.

     f) Bể lọc sinh học (6, 7, 8, 9): hình chữ nhật có kích thước 5 x 20m, chia thành 7 ngăn gồm ngăn sục khí (6) và ngăn lọc sinh học giá thể bằng san hô (7), 6 ngăn lọc sinh học giá thể bằng xơ dừa (8) kích thước 5m x 1,5m, nước sẽ đi theo hướng trên xuống và dưới lên. Cuối cùng là ngăn bể sau lọc sinh học (9).

     g) Hệ thống cung cấp khí (10): Đối với hệ thống nuôi hở, mỗi bể trang bị 1 máy quạt nước công suất 03- 0,5 kW, vị trí máy đối diện sàng ăn để tạo dòng chảy.

     h) Hệ thống nuôi (11 và 12): gồm 12 hình tròn xây bằng gạch, láng xi măng, sơn chống thấm, diện tích đáy 30m2/bể, lỗ thoát nước đặt ở giữa bể.

     i) Hệ thống xử lý nước thải (13): Diện tích ao bằng 5 - 10% diện tích khu vực nuôi, có vị trí xa khu vực nuôi và gần khu xả thải ra môi trường.

     4. Thiết kế hệ thống xử lý nước cho nuôi cá chình thương phẩm

     Nguồn nước cấp cho hệ thống nuôi lấy từ kênh thủy nông có nguồn từ hồ chứa dự trữ Suối Dầu. 

     a) Hệ thống lọc nước: Nước từ kênh thủy nông tự chảy.

     Hệ thống lọc cơ học bao gồm 6 bể chứa san hô, các chất lơ lửng sẽ được giữ lại tại đây, đảm bảo nguồn nước trong sạch. Nước được vào bể chứa, sau đó sẽ theo 2 đường: trực tiếp vào hệ thống hở hoặc bổ sung lượng nước hao hụt trong hệ thống tuần hoàn.

     b) Xử lý nước trong hệ thống tuần hoàn

     Nước được cấp vào bể lắng chất thải rắn, để lắng tụ chất thải vào giữa, Khử trùng bằng ozone.

     Thiết bị (bể) lọc sinh học: theo nguyên lý dòng chảy lên xuống kêt thúc quá trình lọc sinh học, nước được chứa trong bể chứa sau lọc.

     Bổ sung oxy nguyên chất: Sử dụng bình tam giác, đạt mức trên 7mg/L.

     II. ƯƠNG CÁ CHÌNH GIỐNG

     1. Ương giống cấp I 

     Lần 1

     Tốc độ tăng trưởng (TĐTT) của cá ương trong hệ thống tuần hoàn đạt từ 0,030-0,032 g/ngày, không có sự khác biệt giữa các mật độ ương. TĐTT của cá ương trong hệ thống hở đạt từ 0,026 - 0,029 g/ngày, cao nhất ở mật độ 1.000 con/m3 (0,029 g/ngày) và thấp nhất ở mật độ 2.000 con/m3 (0,026 g/ngày).

     FCR của cá ương trong hệ thống tuần hoàn đạt từ 2,24 - 2,38 và trong hệ thống hở đạt 2,66 - 2,74. FCR của cá ương trong mỗi hệ thống không có sự khác biệt giữa 3 mật độ.

     Tỷ lệ sống của cá đạt 64,1% - 67,3%, không có sự khác biệt giữa các mật độ ương trong từng hệ thống ương. Cá thường hao hụt chủ yếu sau khi mới bắt về, trong thời gian 10-15 ngày.

     Hiệu quả kinh tế của ương giống cấp I đợt 1 trong hệ thống tuần hoàn khá cao: Doanh thu (TR), lợi nhuận (LN) và lợi nhuận trên chi phí (LN/TC) ở 3 mật độ 2.500, 5.000 và 7.500 con/m3 lần lượt là 162,2 triệu, 22,3 triệu và 15,9%; 315,5 triệu, 105,1 triệu và 50,0%; 455,5 triệu, 175,3 triệu và 62,5%.

     Hiệu quả kinh tế của ương giống cấp I đợt 1 trong hệ thống hở: TR, LN và LN/TC ở 3 mật độ 1.000, 1.500 và 2.000 con/m3 lần lượt là 56,9 triệu, -0,2 triệu và -0,4%; 79,3 triệu, 8,3 triệu và 11,6%; 97,7 triệu, 13,0 triệu và 15,3%. Kết quả cho thấy ương trong hệ thống hở cho hiệu quả kinh tế  thấp, thậm chí ở mật độ 1.000 con/m3 cho kết quả lỗ. Tuy nhiên, kết quả cũng cho thấy ương ở mật độ cao thì hiệu quả kinh tế cao hơn ương ở mật độ thấp.

     Lần 2 

     Sau 150 ngày ương, với cỡ giống thả đồng đều, cá khỏe mạnh, cỡ cá thu hoạch trung bình đạt 5,41 g/con trong hệ thống tuần hoàn và 5,02 g/con trong hệ thống hở.

     TĐTT, FCR và TLS của cá ương trong hệ thống tuần hoàn lần lượt là 0,035 g/ngày, 2,31 và 73,1%. TĐTT, FCR và TLS của cá ương trong hệ thống hở lần lượt là 0,032 g/ngày, 2,43 và 70,0%.

     Kết quả cho thấy ương đợt 2, TLS đạt 70,0-73,1% cao hơn so với đợt 1 đạt 64,1% - 67,3%,; TĐTT trung bình đạt 0,034 g/ngày cao hơn so với đợt 1 chỉ đạt 0,31g/ngày. Hệ số chuyển đổi thức ăn đạt 2,37 thấp hơn so với đợt 1 đạt 2,38.

     TR, LN và LN/TC của ương giống cấp I đợt 2 trong hệ thống tuần hoàn lần lượt là 1040,2 triệu, 365,8 triệu và 54,2%; trong hệ thống hở là 276,8 triệu, 57,9 triệu và 26,5%. 

     Kết quả trên cho thấy TĐTT, TLS của ương giống cấp I đợt 2 trong cả 2 hệ thống cao hơn so với đợt 1, trong khi FCR thấp hơn đáng kể. Hiệu quả kinh tế cũng được nâng lên rõ rệt, lợi nhuận trên chi phí trong hệ thống tuần hoàn và hệ thống hở là 81,1% và 40,5% cao hơn trong đợt 1 là 42,8% và 8,9%. Kết quả này cao hơn hẳn so với kết quả của Chu Văn Công 2010 (TLS chỉ đạt trên 50%).

     Kết quả ương giống cấp I đợt 2 ở trên cho thấy sự lựa chọn mật độ phù hợp, công nghệ đã được hoàn thiện, máy móc thiết bị đã được nâng cấp. Tuy nhiên cũng cần phải tiếp tục hoàn thiện công nghệ, đồng bộ và hiện đại máy móc thiết bị, để từng bước đạt hiệu quả ngang bằng với các nước có trình độ công nghệ ương nuôi cá chình tiên tiến trên thế giới hiện nay.

     2. Ương giống cấp II 

     Lần 1

     TĐTT của cá ương trong hệ thống tuần hoàn đạt từ 0,22 - 0,24 g/ngày, cao nhất ở mật độ 1.000 con/m3 (0,24 g/ngày) và thấp nhất ở mật độ 2.000 con/m3 (0,22 g/ngày). TĐTT của cá ương trong hệ thống hở đạt từ 0,17 - 0,20 g/ngày, cao nhất ở mật độ 400 con/m3 (0,20 g/ngày) và ương ở mật độ 600 con/m3 (0,19 g/ngày) cao hơn cá ương ở mật độ 800 con/m3 (0,17 g/ngày).

     FCR của cá ương trong hệ thống tuần hoàn đạt từ 2,26 - 2,31 và không có sự khác biệt giữa 3 mật độ. FCR của cá ương trong hệ thống hở đạt 2,45 - 2,61, cao nhất ở mật độ 400 con/m3 (2,45) và thấp nhất ở mật độ 800 con/m3 (2,61).

     TLS của cá ương trong hệ thống tuần hoàn đạt 75,3 - 78,08%, cao nhất ở mật độ 1.000 con/m3 (78,08%), thấp nhất ở mật độ 2.000 con/m3 (75,3%). TLS của cá ương trong hệ thống hở đạt 73,0 - 75,2 %, cao nhất ở mật độ 400 con/m3 (75,3%), thấp nhất ở mật độ 800 con/m3 (73,0%).

     Ương giống cá chình cấp II trong hệ thống tuần hoàn có TĐTT cao hơn, FCR thấp hơn và TLS cao hơn cá ương trong hệ thống hở. Trong cùng một hệ thống, mật độ có ảnh hưởng đến TĐTT, FCR và TLS, cá ương ở mật độ cao thì FCR cao hơn, trong khi TĐTT và TLS thấp hơn cá ương ở mật độ thấp.

     Hiệu quả kinh tế của ương giống cấp II đợt 1 trong hệ thống tuần hoàn:  TR, LN và LN/TC ở 3 mật độ 1.000, 1.500 và 2.000 con/m3 lần lượt là 450,4 triệu, 152,2 triệu và 51,0%; 665,5 triệu, 257,2 triệu và 63,0%; 845,2 triệu, 347,7 triệu và 69,9%. Kết quả cho thấy ương ở mật độ cao thì hiệu quả kinh tế cao hơn ương ở mật độ thấp.

     Hiệu quả kinh tế của ương giống cấp II đợt 1 trong hệ thống hở: TR, LN và LN/TC ở 3 mật độ 400, 600 và 800 con/m3 lần lượt là 162,4 triệu, 46,7 triệu và 40,4%; 230,7 triệu, 72,5 triệu và 45,9%; 285,9 triệu, 89,8 triệu và 46,0%. Kết quả cho thấy ương ở mật độ cao thì hiệu quả kinh tế cao hơn ở mật độ thấp.

     Với kết quả ương giống cấp II đợt 1, trong điều kiện thực tế về cơ sở vật chất máy móc thiết bị và trình độ công nghệ, dự án lựa chọn mật độ thích hợp nhất để triển khai ương giống cấp II, đợt 2 với mật độ 1.500 con/m3 trong hệ thống tuần hoàn và 600 con/m3 trong hệ thống hở.

     Lần 2

     Với cỡ giống thả trung bình 5,1 -5,2 g/con, cá khỏe mạnh đồng đều, sau 180 ngày ương kết quả ương đạt:

     TĐTT, FCR và TLS của cá ương trong hệ thống tuần hoàn lần lượt là 0,264 g/ngày, 2,22 và 82,5%. TĐTT, FCR và TLS của cá ương trong hệ thống hở lần lượt là 0,243 g/ngày, 2,30 và 80,6%.

     TR, LN và LN/TC của ương giống cấp II đợt 2 trong hệ thống tuần hoàn lần lượt là 2.231,9 triệu, 905,5 triệu và 68,3%; trong hệ thống hở lần lượt là 842,2 triệu, 327,0 triệu và 63,5%.

     Kết quả trên cho thấy TĐTT, TLS của ương giống cấp II đợt 2 trong cả 2 hệ thống đều cao hơn so với đợt 1, trong khi FCR thấp hơn đáng kể. Hiệu quả kinh tế cũng được nâng lên rõ rệt, LN/TC trong hệ thống tuần hoàn và hệ thống hở là 93,4% và 91,7% cao hơn trong đợt 1 là 79,3% và 60,1%. Kết quả này cao hơn hẳn so với kết quả của Chu Văn Công 2010 (TLS chỉ đạt trên 50%)

     Kết quả ương giống cấp II đợt 2 ở trên cho thấy sự lựa chọn mật độ phù hợp, công nghệ được hoàn thiện, máy móc thiết bị đã được nâng cấp và đồng bộ hơn, trình độ tay nghề và quản lý đã được nâng cao. Tuy nhiên cũng cần phải tiếp tục hoàn thiện công nghệ, đồng bộ và hiện đại máy móc thiết bị, để từng bước đạt hiệu quả ngang bằng với các nước có trình độ công nghệ ương nuôi cá chình tiên tiến trên thế giới hiện nay.

     Đánh giá chất lượng và nguồn lợi cá Chình giống ở Bình Định, Phú Yên, Quảng Ngãi

     Mùa vụ xuất hiện cá chình trắng tại Bình Định và Phú Yên tương tự nhau (từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau) còn tại Quảng Ngãi thường xuất hiện muộn hơn khoảng 2 tháng bắt đầu từ tháng 12.

     Cá chình trắng xuất hiện chủ yếu tại các đập dâng của các kênh mương thủy lợi hoặc thủy điện. Điều kiện khi mưa bão, hoặc triều cường, vào các ngày tối trăng, cá di chuyển ngược dòng nước đi vào các thủy vực nước ngọt.

     Ngư cụ khai thác rất thô sơ, thủ công như lưới xúc, chà bổi, lưới trũ,… ngoài ra còn có phương pháp kích điện sử dụng để khai thác các loại cá chình giống lớn và thương phẩm, mang tính chất hủy diệt hàng loạt, ảnh hưởng tới nguồn lợi thủy sản nhưng vẫn được sử dụng.

     Phương pháp bảo quản thường gom cá chình trắng với số lượng lớn trong nhiều ngày sau đó mới cung ứng cho các hộ nuôi hoặc thương lái làm ảnh hưởng đến TLS và sức khỏe của cá.

     Sản lượng cá chình khai thác được hàng năm khoảng 3-5 triệu giống bằng phương pháp thủ công. Theo kinh nghiệm của chuyên gia đến từ Hàn Quốc nếu khai thác bằng phương tiện hiện đại sẽ thu được 8- 10 triệu giống/năm.

     Trong 3 năm triển khai thực hiện Dự án này, với số lượng cá chình bột trắng khảo sát khoảng 1.000.000 con thì tỉ lệ cá chình hoa chiếm hơn 96%, cá chình mun khoảng 4%, cá chình Nhật rất ít bắt gặp khoảng 0,01 - 0,1%, nhiều lô không tìm thấy con nào.

     Kết quả ương nuôi thử nghiệm cho thấy chất lượng cá chình giống khai thác được ở các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên là tương đương nhau và không có sự khác biệt với chất lượng cá chình nhập ngoại từ Indonesia.

     3. Các biện pháp phòng trị bệnh cá chình giống Một số loại tác nhân gây bệnh trên cá chình hoa

     a. Tác nhân gây bệnh loét mang do vi khuẩn

     Đã xác định cá bệnh qua một số dấu hiệu bệnh xuất hiện trên cá chình có kích thước từ 5 - 20 cm, các triệu chứng bệnh như: thường xuất hiện phía ngoài mang sau đó nhiễm dần vào trong mang, dùng tay đè vào chỗ nắp mang thì xuất hiện máu và chất nhờn màu vàng, lật nắp mang ra thấy có nhiều vết thương và dịch nhờn Khi cá mắc bệnh này còn tạo điều kiện cho các mầm bệnh khác xâm nhập nên tạo ra hiện tượng cá chết hàng loạt. 

     Sau khi nhuộm màu gram cho thấy các tia mang bị loét, các sợi mang không hoàn chỉnh, vùng mang loét có màu đỏ bầm hoặc mất màu. Vi khuẩn phát triển niêm dịch nhờn tiết ra phủ kín trên tia mang, ở giữa có nhiều lỗ hỏng.

     b. Tác nhân gây bệnh do ký sinh trùng

     Ký sinh trùng Dactylogyrus: Dactylogyrus ký sinh chủ yếu trên mang cá. Cá bị nhiễm nặng, mang hô hấp nhanh, bỏ ăn, suy nhược, một phần lược mang tiết ra chất nhờn, mang biến thành màu tro đen.

     Ký sinh trùng Trichodina: Cá chình giống thường bị ký sinh ở ngoài da và ở vây, chúng bám trên bề mặt làm cho tổ chức bị ký sinh tiết chất dịch nhờn, tế bào bị hoại tử, đặc biệt là khi ký sinh ở mang thì bị phủ lớp dịch nhờn làm xuất huyết, cá thiếu oxy, khó thở nên nổi đầu, bơi lội yếu dần, giảm bắt mồi, dễ chết.

     4. Kết quả thử nghiệm điều trị một số bệnh thường gặp

     a. Điều trị bệnh loét mang do vi khuẩn

     Tetracyline nhạy nhất nên chọn để bố trí thử nghiệm trị bệnh cho cá Chình; Kết quả sử dụng Tetracycline 2ppm có hiệu quả tốt trong việc trị bệnh loét mang do vi khuẩn gây ra trên cá chình giống. 

     Nhưng tốt nhất vẫn là phòng bệnh: kiểm soát chặt chẽ lượng cho ăn, mật độ ương phù hợp, vệ sinh, thay nước hợp lý, cách ly cá yếu, cá bệnh, tránh ô nhiễm và lan truyền mầm bệnh.

     b. Phòng trị bệnh sán lá đơn chủ Dactylogyrus sp

      Sử dụng formalin nồng độ 80 ppm kết hợp SDK tắm cho cá trong 24h, và sử dụng SDK nồng độ 6ppm để tắm cho cá trong 24h.

     Phòng bệnh: Giữ gìn vệ sinh trong bể nuôi, quản lý tốt chất lượng nước, hạn chế thức ăn thừa, mật độ nuôi cá phải phù hợp, nhiệt độ nuôi 28 - 300C

     c. Phòng trị bệnh trùng bánh xe Trichodina sp

     Sử dụng xử lý 0,3 ppm CuSO4 hoặc formalin 80 ppm trong 24h, duy trì nhiệt độ 28-300C, sau đó thay nước

     Phòng bệnh: Giữ gìn vệ sinh bể ương, quản lý tốt chất lượng nước, hạn chế thức ăn thừa, mật độ ương phù hợp, duy trì nhiệt độ 28 - 300C.

     III. NUÔI THƯƠNG PHẨM CÁ CHÌNH

     Qua 2 đợt nuôi thương phẩm cá chình sau 2 đợt trong 2 hệ thống cho thấy:

     Tỷ lệ sống (TLS) khá cao, đạt trên 95%, mật độ nuôi không ảnh hưởng đến TLS sống của cá.

     TĐTT của cá đạt theo yêu cầu của Dự án, từ cá giống thả 50 g/con, sau 18 tháng nuôi (4 giai đoạn) đạt cỡ thương phẩm 2 kg/con. 

     Hệ số thức ăn (FCR) đạt 2,15 - 2,70 (tương đương với 110.000 -140.000 đồng tiêu tốn thức ăn cho 1 kg cát tăng trọng), trong khi giá bán khoảng 430.000 đồng/1kg cá sản phẩm.

     Đợt 2 hiệu quả kinh tế của nuôi thương phẩm cá Chình trong 2 hệ thống nuôi sau 4 - 5 tháng, hầu hết các các lô thử nghiệm đều có lãi, mỗi giai đoạn thu được lợi nhuận trên chi phí trong hệ thống tuần hoàn từ 19,5 - 45,1% và trong hệ thống hở từ 11,1 - 40,1%.

     Kết quả nuôi thương phẩm đợt 2 cao hơn đợt 1 cho thấy sự lựa chọn mật độ phù hợp, công nghệ nuôi đã được hoàn thiện, máy móc thiết bị đã được nâng cấp. Tuy nhiên cũng cần phải tiếp tục hoàn thiện công nghệ, đồng bộ và hiện đại máy móc thiết bị, để từng bước đạt hiệu quả ngang bằng với các nước có trình độ công nghệ ương nuôi cá chình tiên tiến trên thế giới hiện nay.

     V. CÁC BIỆN PHÁP PHÒNG TRỊ BỆNH CÁ CHÌNH THƯƠNG PHẨM

     1. Một số tác nhân gây bệnh trên cá chình hoa thương phẩm

     a) Bệnh xuất huyết do vi khuẩn: Cá chình hoa thương phẩm bị nhiễm bệnh xuất huyết và gan thận mủ

     b) Bệnh do ký sinh trùng: Ký sinh trùng Trichodina

     2. Kết quả thử nghiệm điều trị một số bệnh thường gặp trên cá chình thương phẩm

     a) Điều trị bệnh loét mang

     Kết quả xét nghiệm vi khuẩn tổng số và thử kháng sinh đồ: Erythromycine nhạy nhất nên chọn để thử nghiệm điều trị bệnh loét mang.

     Kết quả thử nghiệm điều trị: sử dụng Erythromycine 2ppm ngâm cá trong 24h sau đó tiến hành thay nước rồi xử lý lặp lại thuốc trong 5 ngày liên tục có hiệu quả.

     b) Điều trị bệnh trùng bánh xe

     Sử dụng CuSO4 nồng độ 0,3ppm để tắm cho cá trong 24h.

     VI. QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ, TRIỂN KHAI MỘT SỐ MÔ HÌNH RA CÔNG ĐỒNG, ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH TẾ XÃ HỘI VÀ MÔI TRƯỜNG

     a. Hoàn thiện công nghệ ương giống cá chình theo hình thức cung cấp oxy bằng máy thổi khí, thay nước hàng ngày

     “Quy trình công nghệ ương giống cá chình hoa (anguilla marmorata) trong hệ thống hở, bổ sung oxy bằng máy sục khí”. 

     Quy trình được xây dựng với các bước cụ thể thực hiện trong quá trình ương cá chình hoa công nghiệp trong hệ thống hở theo hình thức thay nước hàng ngày, bổ sung oxy bằng máy sục khí, TLS từ cá chình bột trắng lên giống cấp I (5 g/con) đạt 70%, TLS từ 5g lên giống cấp II (50 - 80 g/con) trên 80%. Công suất 150.000 con cá giống cấp II/năm.

     b. Hoàn thiện công nghệ ương giống cá chình tuần hoàn

     Tên quy trình: “Quy trình công nghệ ương giống cá chình hoa (anguilla marmorata) trong hệ thống tuần hoàn, bổ sung oxy nguyên chất”.

     Quy trình được xây dựng với các bước cụ thể thực hiện trong quá trình ương giống cá chình hoa công nghiệp trong hệ thống tuần hoàn TLS từ cá chình bột trắng lên giống cấp I (5 g/con) đạt 70 %, TLS từ 5g lên giống cấp II (50 - 80 g/con) trên 80 %. Công suất 300.000 cá giống cấp II/năm.

     c. Công nghệ nuôi thương phẩm cá chình theo hình thức cung cấp oxy bằng máy thổi khí, thay nước hàng ngày

     Tên quy trình: “Quy trình nuôi thương phẩm cá chình hoa (anguilla marmorata) theo hình thức thay nước hàng ngày, bổ sung oxy bằng máy quạt khí”.

     Quy trình được xây dựng với các bước cụ thể trong quá trình nuôi thương phẩm cá chình hoa công nghiệp trong hệ thống hở, thay nước hàng ngày, bổ sung oxy bằng máy quạt khí, TLS 80 %, năng suất 10 - 12 kg/m3, cỡ thu hoạch 2 kg/con, công suất 20 tấn/năm

     d. Công nghệ nuôi thương phẩm cá chình tuần hoàn khép kín, cung cấp oxy nguyên chất

     Tên quy trình: “Quy trình nuôi thương phẩm cá chình hoa (anguilla marmorata) trong hệ thống tuần hoàn kín, bổ sung oxy nguyên chất”. 

     Quy trình được xây dựng với các bước cụ thể thực hiện trong quá trình nuôi thương phẩm cá chình hoa công nghiệp trong hệ thống tuần hoàn, bổ sung oxy nguyên chất, tỉ lệ sống 80 %, năng suất 50 kg/m3, cỡ cá thu hoạch 2 kg/con, công suất 30 tấn/năm.

     đ.Triển khai mô hình ứng dụng công nghệ 

     - Tại Khánh Hòa: 

     Ương giống cấp I trong hệ thống tuần hoàn: TĐTT: 0,035 g/ngày, FCR: 2,21, TLS: 72,5 %; trong hệ thống hở: TĐTT: 0,032, FCR: 2,40 và TLS: 70,1 %. 

     Ương giống cấp II trong hệ thống tuần hoàn: TĐTT: 0,26 g/ngày, FCR: 2,15 và TLS: 82,1 %; trong hệ thống hở TĐTT: 0,24 g/ngày, FCR: 2,31 và TLS: 80,8 %. 

     Nuôi thương phẩm trong hệ thống tuần hoàn: TLS 95,7%; trong hệ thống hở: TLS 94,9 %.

     - Tại Sóc Trăng: Ương giống cấp II trong hệ thống hở: TĐTT: 0,23 g/ngày, FCR: 2,39 và TLS: 80,2%.

     -Tại Bạc Liêu: 

     Ương giống cấp II trong hệ thống hở: TĐTT: 0,23 g/ngày, FCR: 2,33 và TLS: 80,5%; 

     Nuôi trong hệ thống hở: TĐTT: 2,91 g/ngày, FCR: 2,43, TLS 93,4 %.

ThS. Hoàng Văn Duật

Viện Nghiên cứu và Nuôi trồng Thủy sản III

 

   

   

   

   

   

   

   

 Lượt truy cập
   
 Tìm kiếm

   
 Liên kết web

   
 Trao đổi trực tuyến
Quản trị website
Kế toán
Tư vấn viên
   
 Thông tin quảng cáo
Hội Nghề Cá Khánh Hòa
Hội Khoa Học Kỹ Thuật Cầu Đường Khánh Hòa
Hội Hành Nghề Y Tế Tư Nhân Khánh Hòa
Hội Đông Y Khánh Hòa
Hội Tin Học Khánh Hòa
   

LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT TỈNH KHÁNH HÒA
Địa chỉ: 80 Hoàng Văn Thụ, Nha Trang, Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3811158 Fax: 058.3811158
Email: lienhiephoi.khktkh@gmail.com
Người chịu trách nhiệm nội dung: Lê Trung Hưng