Những chuyến đi sinh tử

     Cách trung tâm TP. Nha Trang- Khánh Hòa chừng 5km, tại số nhà 9A/1B, đường Đặng Tất là một căn nhà  cấp bốn, lợp bằng ngói, thấp nhỏ và đơn sơ.  Trong nhà, có một đôi vợ chồng già, sống giản dị và đạm bạc, hầu như tách biệt với thế giới nhộn nhịp phát triển bên ngoài. Ít ai biết rằng, người vợ, từng là nữ Thanh niên Xung phung một thời; ông chồng, từng là Chính trị viên - Bi thư chi bộ của những con tàu không số oai hùng năm nào, ấy là ông Trần Anh Tuấn. 

Hành trình đến thủy thủ

     Một buổi sáng, chúng tôi đến nhà ông. Trong căn phòng khách chật chội chừng 3m vuông, treo tên tường ngăn nắp những huy hiệu 50 năm tuổi đảng, huy chương chiến công hạng nhất, và hình ảnh trắng đen con tàu giữa biển cả mênh mông… Tiếp chúng tôi, đó là ông Trần Anh Tuấn. Ông có dáng người hơi gầy, làn da đen sạm sương gió, song biểu hiện bề ngoài cũng như ăn nói trông hoạt bát, minh mẫn. Ông bảo: “ Mình là thương binh 4/4. Lúc trước sức khỏe mình tốt lắm. Thỉnh thoảng một năm vài ba bận, mình hay đi Quảng Ngãi, Vũng Rô, Bà Rịa, Cà Mau… , để thắp nén hương tưởng nhớ đồng đội đã ngã xuống. Già đây già rồi, lúc trái gió trở trời, vết thương trong người giở chứng gây đau nhức không đi thăm các anh em được, buồn quá!...”. 

     Ông có tên khai sinh là Trần Anh Tuấn, song thời chinh chiến còn có nhiều cái tên khác như là Trần Ngọc Tuấn, Ngọc Tuấn, Tuấn Ngọc… Ngày ấy, đa phần những người theo cách mạng có nhiều cái tên để phòng khi bất trắc. Ông sinh năm 1933, quê ở huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam. Tháng 5/ 1953, khi vừa tròn 20 tuổi, ông viết đơn tình nguyện xin nhập ngũ và được phân công về đơn vị “ tình nguyện quân “ ở Hạ Lào. Sau cuộc đình chiến toàn Đông Dương, đơn vị của ông được lệnh tập kết ra Bắc, đóng quân tại huyện Anh Sơn, Nghệ An. Hai năm sau, đơn vị của ông tiếp tục di chuyển quân lên Mộc Châu, Sơn La thuộc Quân khu Tây Bắc. Đến năm 1959, ông - người chiến sĩ trẻ năng động vinh dự được cử đi học lớp bồi dưỡng chính trị tại Trường Sĩ quan Lục quân I. Ba năm sau học xong, ông được phân công làm trợ lý chính tiểu đoàn 130, căn cứ I Hải Quân. Đến cuối năm 1963, ông được cấp trên điều về đơn vị đặc biệt: Đoàn 759, đảm trách chức vụ Chính trị viên – Bí thư chi bộ các tàu 55, 56, 43. Từ đây, thời điểm bắt đầu cho chuỗi ngày lên đênh trên biển, ông cũng như nhiều đồng đội khác mang trong mình trọng trách cao cả, nối liền hậu phương – tiền tuyến bằng những chuyến hàng vũ khí, phục vụ chiến trường miền Nam khốc liệt trong những ngày đánh Mỹ. 

Những phen ngộp thở

     Chuyến đi đầu tiên bắt đầu từ ngày 7/4/1964, ông cùng 15 thủy thủ  khác, chở trên tàu 42 tấn vũ khí đến Vàm Lũng- Cà Mau. Những ngày đầu, địch không biết chúng ta mạo hiểm mở con đường Hồ Chí Minh trên biển nên vận chuyển tương đối dễ dàng. Theo quy ước, tàu của ông dến nơi hẹn vào ban đêm và ra tín hiệu bật đèn 3 lần, các chiến sĩ địa phương bật tín hiệu lại 3 lần, nhận ra người của ta, thế là lên tàu bốc vũ khí xuống. Tín hiệu là thế, song khi tàu của ông đến nơi thì các chiến sĩ địa phương không bắt tín hiệu. Ông cùng các thủy tàu hồi hộp, lo lắng không biết chuyện gì sảy ra? Ông và các thủy thủ ra phương án, giả sử bị lộ, tất cả anh em chiến đấu tới cùng rồi dùng bộc phá đã gài sẳn dưới thân tàu, phá hủy và chết theo cùng con tàu. Tàu của ông ra tín hiệu thêm mấy lần nữa, cuối cùng, các chiến sĩ địa phương mới phát tín hiệu lại rồi ra nhận hàng. Lúc khuân vũ khí xuống, hỏi ra mới biết, lần đầu tiên thấy con tàu của ta to lớn quá, nghi ngờ tàu địch nên không dám ra. Chỉ đơn giản thế, nhưng làm cho ông cùng các thủy thủ khác một phen hú vía. 

     Tháng 10/1964, Quân Ủy Trung Ương chi thị cho lực lượng vũ trang Miền Nam mở đợt hoạt động Đông Xuân 1964- 1965, nhằm tiêu diệt một bộ phận quan trọng quân chủ lực Ngụy để mở rộng vùng giải phóng chiến trường chính là miền Đông Nam Bộ, Trung Bộ và Tây Nguyên. Đội tàu 56 của ông tham gia chiến dịch. Tối ngày 18/12/1964, tàu nhổ neo xuất phát. Lợi dụng gió mùa Đông Bắc, sóng to, tàu đã luồn lách vượt qua được các tuyến ngăn chặn của địch. Đến 22h30’  ngày 22/12/ 1964, con tàu không số 56 đột phá vào bến Lộc An, sông Ray thuộc xã Phước Hải, huyện Long Đất, tỉnh Bà Rịa. Lúc này, đã có Trung đoàn 2  đã bí mật ém quân chờ sẳn trước đó bốn ngày đêm, nhận đến đâu trang bị cho các chiến sĩ đến đó, hết 44 tấn vũ khí. Lúc tàu 56 của ông chuẩn bị trở ra, một chiến sĩ ở Trung đoàn 2 cười nói: “  Ra ngoài đó nhớ nghe đài nhé!”. Một câu nói vu vơ, ông không quan tâm lắm. Song lúc tàu vừa ra khơi, ông mở đài nghe hay tin ngay sau đó Trung đoàn đã tập kính đánh Bình Giã và thắng trận lớn…”.  

Những chuyến đi sinh tử

     Ông kể rằng, trong cuộc đời lênh đênh trên biển của mình đã đi không biết bao nhiêu chuyến, nhưng có 2 chuyến bị địch phát hiện. Chuyến đầu là tháng 3/1967, tàu của ông bị địch phát hiện vây đánh ở đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi. Trước tình thế cấp bách ấy, buộc ông phải chính tay đặt kiếp nổ thực hiện phá hủy con tàu của mình. May mà, ông cũng như đồng đội được Tỉnh đội Quảng Ngãi ứng cứu. Trong khi trở về, ông cùng đồng đội đi bộ vượt đường Trường sơn, đói rét bệnh tật, phải mất khoảng 7 tháng mới về được đơn vị ở Thủy Nguyên, Hải Phòng, trong tình trạng sức lực suy kiệt. Chuyến thứ hai là năm 1968, cũng là chuyến ông trở thành thương binh 4/4, một nỗi ám ảnh không nguôi…. 

     Vào ngày 27/2/1968, con tàu mang kí hiệu số 43 do thuyền Trưởng Nguyễn Đức Thắng và ông làm chính trị viên được lệnh chở 37 tấn vũ khí vào Đức Phổ ( Quảng Ngãi). Sau thời gian lên đênh trên biển, đến 0h 50 phút ngày 1/3/1968, khi tàu cách bờ khoảng 20-25 hải lý thì có 4 chiến hạm địch vây chặn phía sau, đồng loạt bắn pháo sáng rực cả vùng trời. Chỉ huy tàu 43 phát lệnh chiến đấu và tiêu hủy tài liệu. Lúc này, thuyền Trưởng đứng trên đài chỉ huy sẳn sàng phát lệnh nổ súng, còn ông kiểm tra và động viên anh em chiến đấu. Đến vị trí nào anh em cũng cầm chắc tay súng, lực đạn hoặc thủ pháo sẳn sàng “quyết tử”. Sau khi địch bắn pháo sáng khoảng 15- 20 phút, đạn pháo từ 4 chiến hạm bắn tấp nập vào tàu của ta. Sau khi pháo dứt, lập tức từ mạn phải xuất hiện 10 tàu cao tốc, mỗi đợt 2 chiếc lao vào tấn công ta. Tất cả anh em trên tàu đều bình tỉnh, đợi tàu địch lại gần 200m đến 150m, chỉ huy ra lệnh bắn. Lập tức các loại súng nhả đạn, diệt ngay 1 tàu đợt đầu và 2 tàu đợt sau. Tiếp theo, địch có thêm 3 máy bay trực thăng HU1A đến, đạn bắn nhanh và trút xuống tàu như mưa. Chỉ huy ra lệnh súng 12,7 ly bắn trả, trúng 1 chiếc đâm đầu xuống biển, bắn rơi 2 chiếc khác trong đợt tấn công sau của địch. Cuộc chiến đấu ác liệt diễn ra trong vòng 3 giờ liền, tàu ta bị trúng đạn nặng, 3 đồng chí hy sinh, nhiều đồng chí khác bị thương. Tình thế mỗi lúc một bất lợi, nếu tiếp tục chiến đấu, trời sẽ sáng và địch nhất định sẽ tăng cường lực lượng vây tàu ta. Chính vì vậy, chỉ huy tàu và ông bàn quyết định phá hủy con tàu để không lọt vào tay địch. Khi tiếng nổ “ ầm ầm” vang lên sáng rực cả vùng biển, cũng là lúc ông và đồng đội đã bơi 20m vào bờ, vận động nhanh chóng đến núi cao trước mặt để thoát vòng vây địch. 

     Khi đến chân núi, địch đã bao vây và có cả hai chiếc xe tăng chặn đường. Ông cùng đồng đội phá vòng vây, leo lên nữa chừng núi thì trời đã sáng. Nhìn lên đỉnh núi, lại thấy quân Mỹ từng trên càn quét xuống. Thế là ông và đơn vị phải quay xuống chân núi, may mà bắt được liên lạc với địa phương, được nhân dân đưa xuống hầm bí mật. Lính thủy đánh bộ Mỹ đóng trên núi Vàng, liên tục bốn, năm ngày đêm truy quét nhưng vẫn không tìm ra tung tích. Sau đó, ông và đồng đội được du kích thôn Quy Thiện, xã Phổ Hiệp tìm đường vượt qua ấp chiến lượt, vượt qua “cửa tử” là con đường quốc lộ I để lên Phổ cường. Ông và đồng đội đến  bệnh xá Đặng Thùy Trâm chữa trị vết thương.

Tuổi già

     Tháng 3 năm 1971, sức khỏe giảm sút, ông được Bộ chuyển về trường Đại học Thủy sản, làm cán bộ tổ chức. Đến cuối năm 1979, chiến tranh biên giới sảy ra, Bộ Thủy sản đưa ông làm cán bộ thể dục – thể thao của trường, vừa tuyển quân dự bị, vừa huấn luyện sĩ quan Hải quân 1 khóa rồi và đến 1985, ông nghỉ hưu, sống với người vợ và ba con. Ông Tuấn và bạn bè rất vui mừng vì, tháng 10/2011, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang kí quyết định phong tặng tàu 43 là đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang. 

     Hiện nay, con cái đều có vợ có chồng, ông sống cùng với người vợ hiền. Ngoài thời gian xem ti vi, đọc sách, ông có thú vui trồng rau sạch và cắt tỉa cây cảnh. Trước sân nhà ông có cây mai cổ thụ được cắt tỉa thành hình con chim, rất đẹp. Ông bảo cây mai này đã trồng mấy chục năm, khi vừa nghỉ hưu. Ngày trước ông ví con chim này là con chim Hải âu, bay từ Bắc vào Nam, ngang dọc bầu trời. Giờ thì ông ví thành chú Bồ câu hiền lành… Hàng ngày, ông nâng niu, chăm sóc. Có điều dạo này lớn tuổi, những lúc trở trời, thỉnh thoảng ông hay nằm mơ về quá khứ nhất là cuộc chiến tranh ác liệt năm 1968, những người đồng đội của ông nằm xuống như đồng chí Vũ Xuân Ruệ, quê ở Thái Bình, mới cưới vợ 20 ngày, đã hy sinh…; đồng chí Võ Nho Tòng, quê cũng ở Thái Bình, đã có người yêu, ý định đi chuyến này về mới cưới vợ… Kể đến đây, tôi liếc nhìn thấy cặp mắt ông rưng rưng, nghẹn ngào!…/.

Lê Đức Quang - Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Khánh Hòa

 

   

   

   

   

   

   

   

 Lượt truy cập
   
 Tìm kiếm

   
 Liên kết web

   
 Trao đổi trực tuyến
Quản trị website
Kế toán
Tư vấn viên
   
 Thông tin quảng cáo
Hội Hành Nghề Y Tế Tư Nhân Khánh Hòa
Hội Đông Y Khánh Hòa
Hội Tin Học Khánh Hòa
Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh Khánh Hòa
Công Báo Khánh Hòa
   

LIÊN HIỆP CÁC HỘI KHOA HỌC VÀ KỸ THUẬT TỈNH KHÁNH HÒA
Địa chỉ: 80 Hoàng Văn Thụ, Nha Trang, Khánh Hòa
Điện thoại: 058.3811158 Fax: 058.3811158
Email: lienhiephoi.khktkh@gmail.com
Người chịu trách nhiệm nội dung: Lê Trung Hưng